|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/DS-ST
Ngày 12-9-2024
“V/v tranh chấp phường giữa bà H và bà N”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Phạm Văn Diễn;
2.Bà Tăng Thị Hiệu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp phường”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXX -DS ngày 09 tháng 8 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974
- Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- - Bị đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1965
- Nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa có mặt bà H; vắng mặt bà N)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà có quan hệ quen biết với bà Phạm Thị N.
Bà bắt đấu nộp phường cho bà N từ tháng 5/2018 (âm lịch) bà có tham gia chơi 01 suất phường với bà N. Theo đó, mỗi tháng nộp 2.000.000 đồng/suất, ai lấy rồi sẽ phải nộp thêm 400.000đồng lãi/tháng, tức là ai lấy rồi phải nộp cả gốc và lãi là 2.400.000 đồng/tháng/suất, còn ai chưa lấy sẽ chỉ phải nộp 2.000.000 đồng/tháng/suất, ai lấy được phường thì phải trả cho bà N 400.000 đồng là tiền trách nhiệm. Thời gian nộp phường từ ngày 15 – 20 âm lịch hàng tháng. Bà không biết chơi phường với ai, không có nghị quyết phường, bà chỉ biết nộp tiền phường cho bà N hàng tháng, sau khi nộp bà N có viết vào sổ cho bà số tiền nộp của tháng đó và ký tên bà N (chỉ ký tên nhưng không ghi họ tên). Sau khi đóng được khoảng 15 tháng bà có đề nghị bà N cho lấy phường nhưng bà N có nói để dốc ống (lấy cuối cùng) vì đã có người đăng ký lấy nên bà tin tưởng bà N nên đã đồng ý lấy phường cuối cùng. Đến tháng 7/2020 thì phường kết thúc, tương đương 27 tháng, tương ứng với số tiền bà nộp phường cho bà N là 54.000.000 đồng tiền gốc, bà đòi nhiều lần nhưng bà N không trả cho bà.
Tháng 6/2021, bà và một số người làm đơn đề nghị Công an huyện Q giải quyết thì bà N có trả cho bà số tiền 10.000.000 đồng vào ngày 25/11/2021 nên còn nợ lại 44.000.000 đồng nữa. Nay bà khởi kiện yêu cầu bà N trả số tiền 44.000.000 đồng tiền gốc, bà không yêu cầu bà N trả tiền lãi suất của tiền phường và cũng không yêu cầu lãi suất của số tiền chậm trả.
Tại bản tự khai ngày 19/4/2024 bị đơn bà Phạm Thị N trình bày: Từ ngày 15/8/2018 đến tháng 01/2019 bà Phạm Thị H1 đã đã đóng vào cho bà số tiền phường gốc là 158.000.000 đồng và đã lấy về tổng 134.000.000 đồng, chưa có lãi. Bà có viết giấy chơi phường đóng hàng tháng từ tháng 5/2018 cho bà H1. Nay bà H1 khởi kiện yêu cầu bà trả số tiền 44.000.000 đồng bà đồng ý.
Kết quả xác minh với:
- - Cơ sở thôn P, xã Q cung cấp: Bà Phạm Thị N có làm nhiều chủ phường tại địa phương, những ai chơi phường, còn nợ của ai số tiền phường là bao nhiêu, cơ sơ thôn không nắm rõ. Nay bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị N trả số tiền phường ông đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- - Công an huyện Q cung cấp: Công an huyện Q có nhận được đơn tố cáo của bà Nguyễn Thị H tố cáo bà Phạm Thị N không trả tiền phường. Sau khi giải quyết đơn thấy không có dấu hiệu của tội phạm nên Công an huyện không giải quyết, đồng thời cung cấp toàn bộ lài liệu liên quan để Toà án có căn cứ giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt, chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 471 và Điều 357 Bộ luật Dân sự; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, bưu, phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H: Buộc bà Phạm Thị N có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền phường còn lại chưa trả 44.000.000 đồng (Bốn mươi tư triệu đồng). Bà H không yêu cầu bà N trả tiền lãi suất. Bà N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại bà H tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị N trả tiền phường cho bà H, đây là tranh chấp phường; bị đơn bà N có nơi cư trú thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung khởi kiện: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện bà Phạm Thị N trả số tiền gốc của số tiền phường còn lại chưa trả 44.000.000 đồng. Bà N thừa nhận số tiền phường nợ bà H là 44.000.000 đồng, bà sẽ đòi một số người chưa trả tiền phường cho bà để bà trả cho bà H.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà H thấy: Bà H có chơi phường với bà N 01 suất phường, mỗi tháng nộp 2.000.000 đồng/suất, ai lấy rồi sẽ phải nộp thêm 400.000đồng lãi/tháng, tức là ai lấy rồi phải nộp cả gốc và lãi là 2.400.000 đồng/tháng/suất, còn ai chưa lấy sẽ chỉ phải nộp 2.000.000 đồng/tháng/suất. Từ ngày tháng 5/2018 đến tháng 7/2020, bà H có nộp tiền phường cho bà N tổng số 27 tháng x 2.000.000 đồng/tháng = 54.000.000 đồng. Tháng 12/2022 bà N đã trả cho bà H 10.000.000 đồng nên còn nợ lại 44.000.000 đồng, bà N có viết biên nhận vào phường cho bà H thừa nhận số nợ trên.
Từ những chứng cứ nêu trên nên có đầy đủ căn cứ xác định bà Phạm Thị N còn nợ bà Nguyễn Thị H số tiền gốc của tiền phường là 44.000.000 đồng.
Việc vào phường của bà H tự nguyện, phường có lãi suất, thể hiện sự tự nguyện, bình đẳng, không bên nào bị ép buộc, lừa dối và phù hợp với quy định tại Điều 116, Điều 117 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, bưu, phường. Do đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện.
Về lãi suất: Bà H không yêu cầu bà N phải trả tiền lãi của số tiền phường và lãi suất của số tiền chậm trả nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Phạm Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là phù hợp với quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 471 và Điều 357 Bộ luật Dân sự; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, bưu, phường; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
-
Xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H: Buộc bà Phạm Thị N phải trả cho bà H số tiền phường (tiền gốc) còn lại chưa trả là 44.000.000₫ (Bốn mươi tư triệu đồng). Bà H không yêu cầu bà N trả tiền lãi suất.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (12/9/2024) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
-
Về án phí: Bà Phạm Thị N phải chịu 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại bà Nguyễn Thị H tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng, bà H đã nộp theo biên lai thu số 0004700 ngày 19/4/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà Phạm Thị N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Duyên |
Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp phường
- Số bản án: 20/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp phường
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp phường giữa bà Nguyễn Thị H và bà Phạm Thị N
