Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/DS-ST

Ngày 23 tháng 5 năm 2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Trụông Trần Đình Đậu

-Thư ký phiên toà: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 159/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 64/2024/QÐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1951. (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1948. (Vắng mặt, có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Đỗ Thị Tuấn M, sinh năm 1982. (Vắng mặt, có đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt)
  2. Anh Trịnh Tiến T, sinh năm 1983 (Có mặt)
  3. Cùng địa chỉ: Tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

  4. Chị Đỗ Thị Kim H, sinh năm 1989. (Vắng mặt, đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).
  5. Địa chỉ: Tổ A, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

  6. Chị Đỗ Thị Thu T1, sinh năm 1977. (Vắng mặt, đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).
  7. Địa chỉ: Tổ A, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

  8. Chị Đỗ Thị Ngọc M1, sinh năm 1979. (Vắng mặt, có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt)
  9. Chị Trịnh Thị Kim D, sinh năm 1985. (Có mặt)
  10. Cùng địa chỉ: Tổ 9, khu Tân Thành, phường Tân Dân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

  11. Chị Trịnh Thị Minh T2, sinh năm 1988. (Có mặt)
  12. Địa chỉ: Khu G, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

  13. Chị Trịnh Thị Lan H1, sinh năm 1976. (Có mặt).
  14. Địa chỉ: Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

  15. Chị Trịnh Phương T3, sinh năm 1978. (Có mặt).
  16. Địa chỉ: I, khu đô thị T, T, quận H, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, những lời trình bày tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Cuối năm 1988, đầu năm 1989, vợ chồng bà có mua một mảnh đất cùng hoa lợi của bà Bùi Thị L và mua thêm 1 phần đất của ông Nguyễn Xuân L1. Đến tháng 01/2004, gia đình bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích là 254,4 m², thửa số 7, tờ bản đồ 29, địa chỉ ở khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Trịnh Hữu Đ.

Sau đó, khi gia đình bà xây tường rào giáp ranh với gia đình bà Nguyễn Thị B. Do thế đất nhà bà cao hơn nhiều so với nhà bà B và kinh tế lúc đó khó khăn phải xây dựng bằng gạch đất vì sợ đổ tường rào nên bà xây dựng bờ rào thụt lại không hết cõi đất nhà bà.

Khoảng năm 2011-2012, gia đình bà B có xây bờ tường rào theo dọc bờ cõi nhà bà và có xây sang phần đất nhà bà, còn để lại khoảng hơn 11m². Thửa đất nhà bà B là 103, tờ bản đồ 21, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Năm 2021, chồng bà là Trịnh Hữu Đ đã chết. Bà và ông Đ có 2 con chung là: Trịnh Thị Kim DTrịnh Thị Minh T2. Ông Đ có 3 người con riêng là: Trịnh Thị Lan H1, Trịnh Phương T3Trịnh Tiến T. Gia đình bà có làm văn bản phân chia thừa kế đất. Trong quá trình đo đạc lại đất thực tế thì đất nhà bà bị thiếu phía nhà bà B khoảng 11m². Hai gia đình không tự giải quyết ranh giới với nhau được nên bà đã làm đơn giải quyết tranh chấp đất đai gửi Ủy ban nhân dân phường T. Ủy ban nhân dân phường T đã tiến hành hòa giải nhưng không thành nên bà đã làm đơn khởi kiện yêu cầu bà B trả lại đất cho nhà bà theo mốc giới mà bìa đỏ đã cấp. Cụ thể: Bà yêu cầu gia đình bà B trả lại phần đất đã lấn sang nhà bà khoảng 11m².

Sau khi có kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc bà được biết gia đình bà B có lấn chiếm đất của gia đình bà từ bức tường nhà B vào 7,1m². Bà yêu cầu gia đình bà B phải trả lại phần đất lấn chiếm sang nhà bà theo kết quả đo đạc là 7,1m².

Ngày 24/4/2024, gia đình bà và gia đình bà B đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết như sau: Gia đình bà để cho gia đình bà B sử dụng diện tích 7,1

m² đất ở theo kết quả đo đạc và gia đình bà B thanh toán giá trị 7,1m² đất ở trên cho gia đình bà là 20.000.000 đồng. Gia đình bà đã nhận đủ số tiền trên đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận của hai gia đình.

Bị đơn, bà Nguyễn Thị B trình bày:

Bà có thửa đất số 103, tờ bản đồ 21, diện tích 501,5m² (trong đó có 300m² đất ở, 201,5m² đất vườn) tại tổ C, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/02/2004 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị B (thửa đất bà đang cho gia đình con gái ở). Thửa đất này có tiếp giáp với 05 hộ gia đình xung quanh và đường giao thông trong khu, trong đó có giáp ranh với ô đất của bà Nguyễn Thị N là nguyên đơn. Thửa đất này, gia đình bà mua và xây nhà ở từ năm 1981. Có 4/5 hộ gia đình giáp ranh với nhà bà là mua và xây nhà sau gia đình bà, trong đó có gia đình bà Nguyễn Thị N. Bản thân gia đình bà đã sinh sống tại ô đất từ năm 1981 đến nay không có tranh chấp, kiện tụng gì liên quan đến diện tích và quyền sử dụng đất của các hộ gia đình xung quanh.

Thời điểm năm 2004. gia đình bà được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, khi đó bà được biết cán bộ địa chính sử dụng thước đo dây, đo các cạnh, góc và tính diện tích ghi trong giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất là 501,5m².

Đến tháng 5/2023, bà được UBND phường mời đến hòa giải liên quan đến việc gia đình bà Nguyễn Thị N bị thiếu đất.Trong quá trình sinh sống tại đây, bà được biết giữa gia đình bà Nguyễn Thị N và gia đình ông bà T4 - C có sự thỏa thuận cho hoặc nhượng đất liên quan đến chiếu nghỉ cầu thang gia đình ông bà T4 - Chính.

Về việc giáp ranh với nhà bà, gia đình bà Nguyễn Thị N đã xây công trình và bờ rào xác định mốc giới giữa hai nhà nhiều năm trước. Thời điểm đó, bản thân gia đình bà cũng không có điều kiện để xây bờ tường này.

Năm 2014 gia đình bà mới xây bờ tường song song với bờ tường gia đình bà N đã xây. Khi bà xây bức tường này, gia đình bà N đến tận nơi xem và không có ý kiến gì. Đường ống thoát nước thải của gia đình bà N đặt giữa 2 bức tường trên và đang đặt trên đất nhà bà.

Vì vậy, bà khẳng định gia đình bà không tranh chấp đất đai với gia đình bà N vì các lý do sau đây: Gia đình bà đến và sinh sống trước gia đình bà N; Gia đình bà N đã xây dựng mốc công trình và tường rào giáp ranh xác định mốc giới và diện tích đất nhà bà trước. Gia đình bà xây bức tường rào song song với tường rào nhà bà N sau. Khi bà xây bức tường này, gia đình bà N có đến tận nơi xem và không có ý kiến gì. Hai gia đình sống nhiều năm không có mâu thuẫn, tranh chấp về đất đai. Chỉ đến khi ông Đ qua đời và gia đình bà N làm thủ tục thừa kế liên quan đến pháp lý thửa đất mới xảy ra việc thiếu đất khi xác định diện tích bằng phương pháp đo máy. Lúc đó gia đình bà N mới cho rằng thiếu đất bên phía nhà bà là không có căn cứ. Quá trình sinh sống giữa gia đình bà N và gia đình ông T4 có sự thỏa thuận về cho hoặc nhượng đất liên quan đến chiếu nghỉ cầu thang nhà ông T4 (và chỗ nào khác nữa) có thể dẫn tới việc thiếu đất nhà bà N. Bây giờ nhà bà N thiếu đất lại khởi kiện thiếu đất phía giáp ranh nhà bà. Bà N thuê người vẽ bản đồ sai, thiếu

chính xác. Diện tích ô đất nhà bà hoàn toàn do các đồng chí cán bộ địa chính đo đạc, xác nhận và đề nghị cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thời điểm đó cũng là đo dây, tính toán thủ công, chưa sử dụng đo bằng máy như hiện nay).

Để giải quyết đơn của gia đình bà Nguyễn Thị N liên quan đến việc thiếu đất, bà đề nghị Tòa án cũng cho xác định thêm về các hộ tiếp giáp xung quanh gia đình bà N; phương pháp xác định diện tích đất ở các thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các nội dung khác liên quan để đảm bảo quyền lợi và giữ gìn mối quan hệ hàng xóm láng giềng tốt cho các bên liên quan. Năm 2014 bà là người đứng ra xây tường rào và cây cối do bà trồng trước khi vợ chồng anh chị M, L2 về ở tại thửa đất số 103, tờ bản đồ số 21.

Ngày 24/4/2024, gia đình bà và gia đình bà N đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết như sau: Gia đình bà N để cho gia đình bà sử dụng diện tích 7,1 m² đất ở theo kết quả đo đạc và gia đình bà đã thanh toán giá trị 7,1m² đất ở trên cho gia đình bà N là 20.000.000 đồng. Gia đình bà đã trả đủ số tiền trên đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận của hai gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Trịnh Thị Lan H1, chị Trịnh Phương T3, chị Trịnh Thị Kim D, anh Trịnh Tiến T và chị Trịnh Thị Minh T2 trình bày:

Các anh, chị là con của ông Trịnh Hữu Đ và bà Nguyễn Thị N. Gia đình các anh, chị có thửa đất số 7, tờ bản đồ 29 tại tổ C phố T, phường T, V, Phú Thọ, có diện tích là 254,4m² đã được UBND thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đứng tên hộ ông Trịnh Hữu Đ. Khoảng năm 1992-1993, gia đình các anh, chị có xây tường rào giáp ranh với nhà bà B. Do thế đất nhà các anh, chị cao hơn nhà bà B và xây bằng gạch đất nên sợ đổ bờ rào, vì vậy gia đình đã xây thụt vào không xây hết cõi đất.

Khoảng năm 2011-2012, gia đình bà B xây dựng tường rào, đã xây giáp vào tường rào nhà các anh, chị lấn sang thửa đất của gia đình các anh, chị khoảng 11m².

Năm 2021, bố các anh, chị là ông Trịnh Hữu Đ đã chết, gia đình có làm văn bản phân chia thừa kế đất. Trong quá trình đo đạc thực tế lại thửa đất, thì đất nhà các anh, chị thiếu phía nhà bà B khoảng 11m². Hai gia đình không tự giải quyết với nhau được, vì vậy bà N đã khởi kiện yêu cầu bà B trả lại phần đất đã thiếu cho nhà các anh, chị. Nay các anh chị đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N.

Sau khi có kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc được biết gia đình bà B có lấn sang đất nhà các anh, chị là 7,1m². Các anh chị nhất trí với yêu cầu của bà N là yêu cầu gia đình bà B trả lại phần đất đã xây tường rào sang theo kết quả đo đạc là 7,1m².

Ngày 24/4/2024, gia đình các anh, chị và gia đình bà B đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết như sau: Gia đình các anh chị để cho gia đình bà B sử dụng diện tích 7,1 m² đất theo kết quả đo đạc và gia đình bà B thanh toán giá trị 7,1m² đất trên cho gia đình các anh, chị là 20.000.000 đồng. Gia đình các anh, chị đã nhận đủ số tiền trên đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận của hai gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Đỗ Thị Ngọc M1, chị Đỗ Thị Thu T1, chị Đỗ Thị Kim H và chị Đỗ Thị Tuấn M trình bày:

Các chị là con gái của bà Nguyễn Thị B và ông Đỗ Văn N1. Ông Đỗ Văn N1 đã chết năm 1993. Các chị biết năm 1981, bố mẹ các chị có mua thửa đất số 103, bản đồ số 21 tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V và xây dựng nhà cửa ở từ đó đến nay. Gia đình bà N mua và đến ở sau gia đình các chị. Sau một thời gian sinh sống, gia đình bà N xây bức tường rào xác định ranh giới giữa 2 gia đình từ khoảng năm 1994. Đến ngày 18/02/2004, Ủy ban nhân dân thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 469270, thửa đất số 103, tờ bản đồ số 21, diện tích 501,3m² đứng tên chủ hộ là Nguyễn Thị B. Khi đó cán bộ địa chính đo, xác định diện tích đất bằng phương pháp thủ công, chưa đo bằng máy móc. Đến khoảng năm 2014, mẹ các chị đã xây bức tường rào song song với tường rào nhà bà N để đảm bảo mỹ quan và an toàn cho hai gia đình. Khi mẹ các chị xây dựng bức tường, gia đình ông bà N - Đ có xuống tận nơi xem xét và không có ý kiến gì về việc xảy ra tranh chấp đất đai. Hai gia đình sinh sống từ nhiều năm nay không có mâu thuẫn gì về cuộc sống và tranh chấp đất đai. Việc tranh chấp chỉ xảy ra khi ông Đ qua đời và gia đình bà N làm thủ tục chuyển nhượng sang cho bà N mới đo đạc xác định thiếu đất. Nay bà N khởi kiện yêu cầu gia đình các chị trả lại diện tích đã lấn chiếm theo kết quả đo đạc là 7,1m², các chị không đồng ý với lý do sau: Gia đình các chị đến và sinh sống trước gia đình bà N; Gia đình bà N đã xây dựng mốc công trình và tường rào giáp ranh xác định mốc giới và diện tích đất nhà bà trước. Gia đình các chị xây bức tường rào song song với tường rào nhà bà N sau. Khi mẹ các chị xây bức tường này, gia đình bà N có đến tận nơi xem và không có ý kiến gì; Hai gia đình đã ở nhiều năm không có tranh chấp gì. Gia đình các chị không lấn chiếm đất của gia đình bà N.

Ngày 24/4/2024, gia đình các chị và gia đình bà N đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết như sau: Gia đình bà N để cho gia đình các chị sử dụng diện tích 7,1 m² đất ở theo kết quả đo đạc và gia đình các chị đã thanh toán giá trị 7,1m² đất ở trên cho gia đình bà N là 20.000.000 đồng. Gia đình bà N đã nhận đủ số tiền trên đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận của hai gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ; tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp; tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận về việc giải quyết vụ án nhưng các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử các đương sự mới thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

*Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì có quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Vụ án được thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Căn cứ khoản 9 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm c khoản 1 điều 39, khoản 1, 5 điều 147, điều 157, điều 165, điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điều 158, 159, 164, 168 Bộ luật dân sự; điều 170, 203 Luật đất đai;

Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Xử: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

Bà Nguyễn Thị B, chị Đỗ Thị Thu T1, chị Đỗ Thị Ngọc M1, chị Đỗ Thị Tuấn M và chị Đỗ Thị Kim H được quyền sử dụng diện tích đất ở 7,1 m² theo chỉ giới 11A, 26A, 27A, 27, 11A do Công ty cổ phần X thực hiện đo đạc thuộc thửa đất 07, tờ bản đồ 29 tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 854139 ngày 28/01/2004 đứng tên chủ sử dụng hộ ông Trịnh Hữu Đ và tài sản gắn liền với đất là 01 tường rào xây theo chỉ giới 11A, 27, 27A cùng toàn bộ cây cối lâm lộc gắn liền với diện tích đất trên;

Bà Nguyễn Thị B, chị Đỗ Thị Thu T1, chị Đỗ Thị Ngọc M1, chị Đỗ Thị Tuấn M và chị Đỗ Thị Kim H có nghĩa vụ gộp diện tích đất ở 7,1 m² theo chỉ giới 11A, 26A, 27A, 27, 11A do Công ty cổ phần X thực hiện đo đạc thuộc thửa đất 07, tờ bản đồ 29 tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ được sử dụng với thửa đất liền kề số 103, tờ bản đồ 21, diện tích 501,5m² (trong đó: 300m² đất ở và 201,5m² đất vườn) đã được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 469270 ngày 18/2/2004 đứng tên chủ hộ bà Nguyễn Thị B.

Bà Nguyễn Thị B, chị Đỗ Thị Thu T1, chị Đỗ Thị Ngọc M1, chị Đỗ Thị Tuấn M và chị Đỗ Thị Kim H thanh toán giá trị quyền sử dụng diện tích đất ở 7,1 m² theo chỉ giới chỉ giới 11A, 26A, 27A, 27, 11A do Công ty cổ phần X thực hiện đo đạc thuộc thửa đất 07, tờ bản đồ 29 tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ cho bà Nguyễn Thị N, anh Trịnh Tiến T, chị Trịnh Thị Kim D, chị Trịnh Thị Minh T2, chị Trịnh Thị Lan H1 và chị Trịnh Phương T320.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Xác nhận các đương sự đã thanh toán cho nhau số tiền trên vào ngày 24/4/2024.

Các đương sự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về chi phí tố tụng:N tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Xác nhận bà N đã nộp đủ số tiền 7.200.000đ (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

Về án phí: Các đương sự thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị N với bà Nguyễn Thị B là tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Các đương sự có nơi cư trú tại phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và diện tích đất tranh chấp thuộc phường T, thành phố V nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì theo quy định tại khoản 9 điều 26, khoản 1 điều 35 và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã bổ sung người tham gia tố tụng, tiến hành các thủ tục tố tụng, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên phải đưa ra xét xử theo thủ tục chung. Ngày 24/4/2024, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng lại đề nghị giải quyết vắng mặt. Việc thỏa thuận của các đương sự không ảnh hưởng đến quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Ngọc L3 nên Tòa án đã Thông báo chấm dứt tư cách tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ của anh L3 trong vụ án này. Phiên tòa ngày 06/5/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có đơn xin hoãn phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Phiên tòa ngày 23/5/2024, nguyên đơn bà N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị T2, chị D, chị H1, chị T3, anh T đều có mặt; Bị đơn bà B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị T1, chị M1, chị M và chị H đều vắng mặt, đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung vụ án:

Về hồ sơ pháp lý: Thửa đất số 103, tờ bản đồ số 21, diện tích 501,3m² (trong đó có 300m² đất ở và 201,3m² đất vườn) tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 469270 ngày 18/02/2004, đứng tên chủ hộ là Nguyễn Thị B; Thửa đất số 07, tờ bản đồ số 29, diện tích 254,4m² đất ở tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 854139 ngày 28/01/2004 đứng tên hộ ông Trịnh Hữu Đ.

Về hiện trạng sử dụng đối với 2 thửa đất 103, thửa đất 07: Qua xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện trạng thửa đất số 103, tờ bản đồ 21 và thửa số 07, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thửa đất tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ do Công ty cổ phần X tiến hành đo đạc tháng 12/2023 được thể hiện như sau: Thửa đất số 103, tờ bản đồ 21 có diện tích là 524,4 m² theo chỉ giới 24,25,26,27,28,29,30,31,32,33,34,35,24. Diện tích theo hiện trạng sử dụng đất tăng 22,9m² so với diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Thửa đất số 07, tờ bản đồ 29 có diện tích là 240,4m² theo chỉ giới 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,14,15,16,1. Diện tích theo hiện trạng sử dụng đất giảm 14m² so với diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau khi đo đạc tại thực địa bằng công nghệ số đối thửa đất số 103, thửa đất số 07, lồng ghép lên bản đồ địa chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thấy: Phần diện tích đất 7,1m² có các cạnh theo chỉ giới 27A, 27,11A,26A,27A nhà bà B hiện trạng đang sử dụng là 1 phần diện tích đất thuộc thửa đất số 07, tờ bản đồ số 29 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Đ. Trên phần diện tích đất này, gia đình bà B có xây bức tường gạch dài theo chỉ giới 27A,27,11A và cao 2,5m cùng trồng các cây cối lâm lộc.

Ngày 24/4/2024, bà N cùng các con và bà B cùng các con đã thỏa thuận được với nhau về nội dung vụ án như sau: Bà Nguyễn Thị B, chị Đỗ Thị Thu T1, chị Đỗ Thị Ngọc M1, chị Đỗ Thị Tuấn M và chị Đỗ Thị Kim H được quyền sử dụng diện tích đất ở 7,1 m² theo chỉ giới 11A, 26A, 27A, 27, 11A do Công ty cổ phần X thực hiện đo đạc thuộc thửa đất 07, tờ bản đồ 29 tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 854139 ngày 28/01/2004 đứng tên chủ sử dụng hộ ông Trịnh Hữu Đ và tài sản gắn liền với đất là 01 tường rào xây theo chỉ giới 11A, 27, 27A cùng toàn bộ cây cối lâm lộc gắn liền với diện tích đất trên; Bà Nguyễn Thị B, chị Đỗ Thị Thu T1, chị Đỗ Thị Ngọc M1, chị Đỗ Thị Tuấn M và chị Đỗ Thị Kim H có nghĩa vụ gộp diện tích đất ở 7,1 m² theo chỉ giới 11A, 26A, 27A, 27, 11A do Công ty cổ phần X thực hiện đo đạc thuộc thửa đất 07, tờ bản đồ 29 tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ được sử dụng với thửa đất liền kề số 103, tờ bản đồ 21, diện tích 501,5m² (trong đó: 300m² đất ở và 201,5m² đất vườn) đã được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 469270 ngày 18/2/2004 đứng tên chủ hộ bà Nguyễn Thị B. Bà Nguyễn Thị B, chị Đỗ Thị Thu T1, chị Đỗ Thị Ngọc M1, chị Đỗ Thị Tuấn M và chị Đỗ Thị Kim H thanh toán giá trị quyền sử dụng diện tích đất ở 7,1 m² theo chỉ giới chỉ giới 11A, 26A, 27A, 27, 11A do Công ty cổ phần X thực hiện đo đạc thuộc thửa đất 07, tờ bản đồ 29 tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ cho bà Nguyễn Thị N, anh Trịnh Tiến T, chị Trịnh Thị Kim D, chị Trịnh Thị Minh T2, chị Trịnh Thị Lan H1 và chị Trịnh Phương T320.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) vào ngày 24 /04/2024. Hai gia đình sẽ tự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho phù hợp với thỏa thuận trên, Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Nguyễn Thị N chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản đối với việc thỏa thuận trên.

Xét sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử xử công nhận sự thỏa thuận trên.

[3]. Về chi phí thẩm định và định giá tài sản:

Tổng chi phí xem xét, đo đạc, định giá tài sản của vụ án là là 7.200.000₫ (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Nguyên đơn bà N đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và tự nguyện nộp toàn bộ chi phí thẩm định và định giá tài sản trên nên cần xác nhận.

[4]. Về án phí:

Do các đương sự thỏa thuận với nhau về toàn bộ nội dung vụ án nên nguyên đơn, bị đơn đều phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Do nguyên đơn bà N, bị đơn bà B đều là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí và có đơn xin miễn án phí nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà N và bà B.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 9 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm c khoản 1 điều 39, khoản 1 điều 147, điều 157, điều 165, khoản 1 điều 228, điều 271 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điều 158, điều 164, điều 168, điều 175, điều 176 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 5 điều 166, khoản 1 điều 170, khoản 1 điều 203 Luật đất đai 2013;

Căn cứ khoản 8 điều 26, điểm b khoản 2 điều 27 và điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1.Xử: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

Bà Nguyễn Thị B, chị Đỗ Thị Thu T1, chị Đỗ Thị Ngọc M1, chị Đỗ Thị Tuấn M và chị Đỗ Thị Kim H sử dụng diện tích đất ở 7,1 m² theo chỉ giới 11A, 26A, 27A, 27, 11A do Công ty cổ phần X thực hiện đo đạc thuộc thửa đất 07, tờ bản đồ 29 tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 854139 ngày 28/01/2004 đứng tên chủ sử dụng hộ ông Trịnh Hữu Đ và tài sản gắn liền với đất là 01 tường rào xây theo chỉ giới 11A, 27, 27A cùng toàn bộ cây cối lâm lộc gắn liền với diện tích đất trên;

Bà Nguyễn Thị B, chị Đỗ Thị Thu T1, chị Đỗ Thị Ngọc M1, chị Đỗ Thị Tuấn M và chị Đỗ Thị Kim H có nghĩa vụ gộp diện tích đất ở 7,1 m² theo chỉ giới 11A, 26A, 27A, 27, 11A do Công ty cổ phần X thực hiện đo đạc thuộc thửa đất 07, tờ bản đồ 29 tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ được sử dụng với thửa đất liền kề số 103, tờ bản đồ 21, diện tích 501,5m² (trong đó: 300m² đất ở và 201,5m² đất vườn) đã được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 469270 ngày 18/2/2004 đứng tên chủ hộ bà Nguyễn Thị B.

(Có sơ đồ trích lục thửa đất 103, thửa đất 07 do Công ty cổ phần X đo vẽ tháng 12/2023 kèm theo).

Bà Nguyễn Thị B, chị Đỗ Thị Thu T1, chị Đỗ Thị Ngọc M1, chị Đỗ Thị Tuấn M và chị Đỗ Thị Kim H thanh toán giá trị quyền sử dụng diện tích đất ở 7,1 m² theo chỉ giới chỉ giới 11A, 26A, 27A, 27, 11A do Công ty cổ phần X thực hiện đo đạc thuộc thửa đất 07, tờ bản đồ 29 tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ cho bà Nguyễn Thị N, anh Trịnh Tiến T, chị Trịnh Thị Kim D, chị Trịnh Thị Minh T2, chị Trịnh Thị Lan H1 và chị Trịnh Phương T320.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).

Xác nhận ngày 24 /04/2024, bà Nguyễn Thị B, chị Đỗ Thị Thu T1, chị Đỗ Thị Ngọc M1, chị Đỗ Thị Tuấn M và chị Đỗ Thị Kim H thanh toán và bà bà Nguyễn Thị N, anh Trịnh Tiến T, chị Trịnh Thị Kim D, chị Trịnh Thị Minh T2, chị Trịnh Thị Lan H1 và chị Trịnh Phương T3 đã nhận đủ số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động đất đai và điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với quyết định của bản án.

2.Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Nguyễn Thị N tự nguyện nộp toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 7.200.000đ (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Xác nhận bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

3. Về án phí:

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Thị B.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Việt Trì;
  • - Chi cục THADS thành phố Việt Trì;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Hà Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 20/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử: Công nhận thoả thuận
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger