|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 20/2024/DS-ST Ngày: 22 – 4 – 2024 V/v tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lil
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Hồng
Bà Trịnh Thị Trúc Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thư ký Tòa án nhân dân thị
xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXX-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-DS, ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.
- Bị đơn: Chị Lê Thị T1, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: số B, N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hoàng T, Chức vụ: Trưởng phòng giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín thị xã S, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
Địa chỉ: số C đường C, khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: ấp T, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S, có người đại diện ủy quyền tham gia tố tụng ông Trần Hoàng T trình bày:
Vào ngày 26/11/2020 chị Lê Thị T1 có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng S) Hợp đồng thẻ tín dụng, hạn mức 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 31,2%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Sau khi được cấp thẻ tín dụng chị Lê Thị T1 đã thực hiện giao dịch đến ngày 15/02/2023 với số tiền 35.205.926 đồng (Ba mươi lăm triệu, hai trăm lẽ năm nghìn, chín trăm hai mươi sáu đồng). Do chị Lê Thị T1 không thực hiện thanh toán cho Ngân hàng S nên Ngân hàng S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ gốc sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất 150% lãi suất trong hạn.
Tại phiên toà, ông Trần Hoàng T là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Ngân hàng S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn chị Lê Thị T1 có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng S đến ngày 22/4/2024 là 57.700.706 đồng (Năm mươi bảy triệu, bảy trăm nghìn, bảy trăm lẽ sáu đồng), trong đó nợ gốc là 35.205.926 đồng (Ba mươi lăm triệu, hai trăm lẽ năm nghìn, chín trăm hai mươi sáu đồng), lãi quá hạn là 22.494.780 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm chín mươi bốn nghìn, bảy trăm tám mươi đồng). Buộc chị Lê Thị T1 tiếp tục trả nợ lãi cho Ngân hàng S theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng, trả cho đến khi hết nợ.
Bị đơn chị Lê Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành ghi lời khai đối với bị đơn chị Lê Thị T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Lê Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn chị Lê Thị T1.
[2] Về thẩm quyền: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S yêu cầu bị đơn chị Lê Thị T1 trả số tiền còn nợ là 57.700.706 đồng (Năm mươi bảy triệu, bảy trăm nghìn, bảy trăm lẽ sáu đồng). Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn Ngân hàng S đã cung cấp Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 26/11/2020 với hạn mức 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân. Tuy nhiên, từ khi kích hoạt thẻ chị Lê Thị T1 đã thực hiện giao dịch đến ngày 15/02/2023 với số tiền 35.205.926 đồng (Ba mươi lăm triệu, hai trăm lẽ năm nghìn, chín trăm hai mươi sáu đồng). Do chị Lê Thị T1 không thực hiện thanh toán cho Ngân hàng S nên Ngân hàng S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ gốc sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất 150% lãi suất trong hạn. Sau đó Ngân hàng thương mại cổ phần S đã nhiều lần liên hệ, đôn đốc chị Lê Thị T1 trả nợ nhưng chị T1 không thực hiện.
[3.1] Hội đồng xét sử xét thấy, bị đơn chị Lê Thị T1 đã ký kết Hợp đồng mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng S là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kích hoạt thẻ thì chị Lê Thị T1 đã thực hiện giao dịch sử dụng thẻ với số tiền 35.205.926 đồng (Ba mươi lăm triệu, hai trăm lẽ năm nghìn, chín trăm hai mươi sáu đồng) nhưng chị T1 không đăng nộp số tiền trên để thanh toán cho Ngân hàng S. Từ đó làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng S thương T2. Vì vậy, nguyên đơn Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu bị đơn chị Lê Thị T1 trả số tiền còn nợ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Về lãi suất: Theo Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng S quy định mức lãi suất trong hạn tại thời điểm chị Lê Thị T1 giao dịch lãi suất là 31,2%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Theo quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất ...theo quy định pháp luật”. Khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này; b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Bị đơn chị Lê Thị T1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng S theo Hợp đồng thẻ tín dụng đã ký làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng S. Vì vậy, Ngân hàng S yêu cầu bị đơn chị Lê Thị T1 trả số tiền lãi quá hạn 22.494.780 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm chín mươi bốn nghìn, bảy trăm tám mươi đồng) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn chị Lê Thị T1 phải chịu án phí số tiền là 2.885.035 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sữa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với bị đơn chị Lê Thị T1.
- Buộc bị đơn chị Lê Thị T1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tín đến ngày 22/4/2024 là 57.700.706 đồng (Năm mươi bảy triệu, bảy trăm nghìn, bảy trăm lẽ sáu đồng), trong đó nợ gốc là 35.205.926 đồng (Ba mươi lăm triệu, hai trăm lẽ năm nghìn, chín trăm hai mươi sáu đồng), lãi quá hạn là 22.494.780 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm chín mươi bốn nghìn, bảy trăm tám mươi đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn chị Lê Thị T1 phải chịu số tiền 2.885.035 đồng (Hai triệu, tám trăm tám mươi lăm nghìn, không trăm ba mươi lăm đồng).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn chị Lê Thị T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/4/2024) bị đơn chị Lê Thị T1 còn phải chịu lãi suất trên số tiền chưa trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S, mức lãi suất do các bên thỏa thuận theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng lập ngày 26/11/2020 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ tại Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.250.000 đồng (Một triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng), theo lai thu số 0007671 ngày 15/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải chịu thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Lil |
Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Số bản án: 20/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp hợp đồng tín dụng
