|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK GLEI TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2023/HS-ST Ngày: 29/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK GLEI, TỈNH KON TUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Y Trinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Khang – Giáo viên (hưu trí)
Ông Đỗ Kim Hùng – Hưu trí
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Glei tham gia phiên tòa: Ông Khuất Thế Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: A D (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 19 tháng 8 năm 2006 tại tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Xơ Đăng; Trình độ học vấn: 6/12; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông A L, sinh năm 1974 và bà Y L1 sinh năm 1975; Có 07 anh em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
- - Người đại diện hợp pháp của A D: Bà Y L1, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (có mặt)
- - Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thúy H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K. (có mặt)
- - Người bị hại: Anh A V, sinh năm 2003 (Đã chết).
- - Đại diện hợp pháp của bị hại A V: Ông A T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + A L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (có mặt);
- + A N, sinh năm 1990; Địa chỉ: Làng R, xã Y, huyện S, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
- + A N1, sinh năm 2006; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
- + Người đại diện hợp pháp của A N1: Y Bun; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người làm chứng
- + A L2, sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
- + A L3, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 02/7/2023, A D (Sinh ngày: 19/8/2006; trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 82B1- 083.11 đi lễ tại nhà thờ ở thôn Đ, xã Đ, huyện Đ. Đến khoảng 18 giờ 00 cùng ngày, A D và A L2 (Sinh năm: 2004), A V (Sinh năm: 2003), A N1 (Sinh năm: 2006), A L3 (Sinh năm: 2002), tất cả đều cư trú tại thôn Đ, xã Đ cùng uống rượu tại nhà A L2. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, A V rủ đi qua thôn Đ, xã Đ chơi thì A D và A N1 đồng ý, còn A L2 và A L3 không đi vì mệt. Sau đó, A D điều khiển xe mô tô chở theo A V và A N1 ngồi sau lưu thông trên đường H đoạn qua thôn Đ theo hướng huyện N đi huyện Đ; khi đi đến Km 1466+ 420 thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, đoạn đường cua về bên trái, A D đã không giảm tốc độ, đi lấn sang làn đường ngược chiều để rẽ sang trái thì bộ phận cần số và gác chân bên trái xe mô tô cà xuống mặt đường làm xe bị ngã, theo quán tính xe mô tô và người lao về phía trước và va chạm với hộ lan bên phải theo hướng di chuyển. Sau khi tai nạn, cả ba người được người dân đưa đến Phòng khám đa khoa khu vực Đ nhưng A V đã tử vong, A N1 và A D bị thương, xe mô tô bị hư hỏng.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn là Km 1466+420 đường H, đoạn thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Đây là đoạn đường dốc, chân dốc hướng N, đỉnh dốc hướng Đ, mặt đường bê tông nhựa phẳng hai chiều, ở giữa có vạch sơn nét liền màu vàng để phân chia phần đường. Bên trái và bên phải đường có vạch sơn màu trắng nét liền giáp với lề đường, lan hộ mềm.
Tại hiện trường phát hiện: 01 (Một) xe mô tô bển số 82B1-583.11, nhãn hiệu Yamaha Exciter nằm sát lan hộ mềm bên phải; đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay
hướng Đông Nam. 04 (Bốn) vùng vết cà, được đánh dấu lần lượt là V.VC1 dài 4m87; V.VC2 dài 0,84m; V.VC3 dài 9m90; V.VC4 dài 13m14. 02 (Hai) vết máu được đánh dấu là NN1 có kích thước (0,3x0,15)m, NN2 có kích thước (0,2x0,1)m.
Lấy hướng khám nghiệm là hướng N - Đ. Vật chuẩn là cột Km 1466+400 nằm bên trái đường theo hướng khám nghiệm. Mép đường chuẩn là mép đường bên phải (LP) theo hướng khám nghiệm. Tiến hành đo đạc thu được kết quả như sau:
Lòng đường nơi xảy ra tai nạn rộng 8m55, phần đường bên phải rộng 4m35, phần đường bên trái rộng 4m20.
Khoảng cách từ mép đường chuẩn đến: Đầu V.VC1 là 5,53m, cuối V.VC1 là 5,17m; đầu V.VC2 là 5,85m, cuối V.VC2 là 5,80m; đầu V.VC3 là 4,85m, cuối V.VC3 là 3,25m; đầu V.VC4 là 3,27m, cuối V.VC4 là 0,15m; NN1 là 1,10m, NN2 là 0,80m.
Khoảng cách từ đầu V.VC1 đến trục sau xe mô tô là 29,15m; từ NN1 đến trục sau xe mô tô là 7,80m; từ NN2 đến trục sau xe mô tô là 3,70m.
Khoảng cách từ vật chuẩn đến: Đầu V.VC1 là 17,93m, cuối V.VC1 là 13,50m; đầu V.VC2 là 15,10m, cuối V.VC2 là 14,35m; đầu V.VC3 là 12,90m, cuối V.VC3 là 6,15m; đầu V.VC4 là 6m, cuối V.VC4 là 12,95m; NN1 là 7,90m, NN2 là 10,17m; trục trước xe mô tô là 14,20m, trục sau xe mô tô là 13,23m.
Mở rộng hiện trường: Cách vị trí xảy ra tai nạn khoảng 150m về hướng huyện N, phía bên phải đường theo hướng khám nghiệm có biển cảnh báo “ĐI CHẬM”, mã W.245a.
* Kết quả giám định tử thi: Tại bản Kết luận giám định tử thi số 58/KLGĐTT-TTPY ngày 05/7/2023 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh K, kết luận nguyên nhân chết của A V là do Gãy cổ
* Kết quả giám định tổn thương cơ thể: Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 152/KLTTCT-TTPY ngày 27/9/2023 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh K xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của A N1 tại thời điểm giám định là: 42,35% làm tròn 42%
Kết quả giám định tư pháp phương tiện liên quan tai nạn giao thông:
Tại bản Kết luận giám định tư pháp ngày 24/7/2023, do Giám định viên Nguyễn Minh T1 thực hiện, kết luận đối với phương tiện mang biển số đăng ký 82B1-053.11:
Bên ngoài xe: Tấm ốp nhựa trên đèn chiếu sáng bung khỏi vị trí lắp ghép. Phần trước đầu xe tại vị trí trên đèn chiếu sáng bị trầy xước. Đầu tay cầm lái bên trái bị cà mòn. Tay cầm lái tại vị trí lắp với trục lái bị gãy lìa. Cánh manh chắn gió bên trái bị bể, trầy xước. Ốp nhựa hông xe bên trái tại vị trí dưới yên xen bị cà mòn. Đầu cần đi số, gác chân người lái bên trái bị cà mòn. Mặt dưới cần đạp phanh bị cà mòn. Gác chân người ngồi sau bên phải bị gãy lìa.
Kiểm tra hệ thống phanh: Phanh trước, phanh sau hoạt động bình thường, không phát hiện dấu hiệu bị hư hỏng.
Kiểm tra hệ thống lái: Càng lái cân đối, điều khiển nhẹ nhàng, lắp chắc chắn với trục lái.
Kiểm tra đèn chiếu sáng: Tại thời điểm kiểm tra, động cơ không hoạt động nên không kiểm tra hệ thống đèn.
* Kết quả định giá tài sản bị thiệt hại: Tại bản Kết luận định giá tài sản số 08/ KL-HĐĐGTS ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: Giá trị thiệt hại về tài sản bị hư hỏng do tai nạn gây ra của xe mô tô biển số 82B1-583.11 là 2.153.333 đồng (Hai triệu một trăm năm mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy: Tại biên bản số 02256 ngày 03/7/2023 thể hiện kết quả đo nồng độ cồn của A D là 0,718mg/l. Kiểm tra nhanh ma túy đối với A D bằng kít test nhanh xác định A D âm tính với các chất ma túy.
* Về giấy phép lái xe: A D là người dưới 18 tuổi nên chưa có giấy phép lái xe theo quy định.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
Cơ quan CSĐT đã tạm giữ đồ vật, tài liệu, phương tiện:
01 (Một) xe mô tô biển số: 82B1-583.11, nhãn hiệu Yamaha Exciter, bị hư hỏng do tai nạn giao thông. 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 040069 mang tên A N.
Quá trình điều tra, xác định: Chiếc xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy trên thuộc sở hữu hợp pháp của ông A L (Sinh năm: 1974; là bố đẻ của A D); chiếc xe mô tô này được ông A L mua của A N (Sinh năm: 1990; trú tại: Làng R, xã Y, huyện S, tỉnh Kon Tum) vào năm 2021 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 25/10/2023, ông A L viết đơn xin nhận lại tài sản gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ. Ngày 31/10/2023, Cơ quan CSĐT ra Quyết định xử lý vật chứng và đã trả lại cho ông A L chiếc xe mô tô và giấy tờ liên quan nêu trên.
* Phần dân sự: Gia đình bị cáo A D đã tự nguyện bồi thường cho gia đình A V số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) và bồi thường cho gia đình A N1 số tiền là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Gia đình A V và gia đình A N1 không yêu cầu A D phải bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vật chứng thu giữ như nội dung Bản cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số 17/CT-VKS-ĐL ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo A D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình
sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b, khoản 2 Điều 260, Điều 91, Điều 101, Điều 54 và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã chủ động thăm hỏi và tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, truy tố đã xử lý vật chứng đúng theo quy định.
Về án phí: Bị cáo A D phải chịu án phí theo quy định
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo A D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị HĐXX xử phạt bằng mức thấp nhất mà đại diện VKS đề nghị đối với bị cáo A D là 09 tháng tù.
Lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật gây ra hậu quả nghiêm trọng, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Glei, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến gì và cũng không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo A D tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên
bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 02/7/2023, A D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 82B1- 083.11 chở theo A V và A N1 ngồi sau. Khi đi đến Km 1466+ 420 thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, đây là đoạn đường quanh co nguy hiểm và có biển cảnh báo nguy hiểm “ĐI CHẬM”, có khúc cua về bên trái nhưng A D không giảm tốc độ, đi lấn sang làn đường ngược chiều để rẽ trái thì bộ phận cần số và gác chân bên trái xe mô tô cà xuống mặt đường làm xe bị ngã. Hậu quả làm A V chết, A N1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 42% và thiệt hại về tài sản là 2.153.333 đồng (Hai triệu một trăm năm mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
Thời điểm gây tai nạn, A D chưa có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật và đã uống rượu. Vì vậy, A D phải chịu hai tình tiết định khung tăng nặng là “Không có giấy phép lái xe theo quy định” và “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 BLHS. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 8 (được sửa đổi, bổ sung theo khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu bia), khoản 9 Điều 8; Điều 58 Luật giao thông đường bộ 2008, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a, b, khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác. Mặc dù bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhưng thực trạng tai nạn giao thông dẫn tới hậu quả thương vong và chết người trên địa bàn huyện Đ nói riêng và tỉnh Kon Tum nói chung đang là một vấn đề nhức nhối và ngày một gia tăng. Vì vậy, HĐXX nhận thấy cần phải xử phạt bị cáo với một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của Bộ Luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tiết tăng nặng;
- Về tình tiết giảm nhẹ: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo A D chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy
định tại Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã chủ động, tích cực thăm hỏi, động viên và tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình A V số tiền 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) và cho gia đình A N1 số tiền là 8.000.000đồng (Tám triệu đồng). Ngoài ra đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Tại phiên tòa Bà Nguyễn Thị Thúy H (Trợ giúp viên pháp lý) bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS đề nghị HĐXX xử phạt bằng mức thấp nhất mà đại diện VKS đề nghị đối với bị cáo A D là 09 tháng tù. HĐXX nhận thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Do vậy HĐXX xét thấy nên áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định (làm nông). Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo A D cùng gia đình đã đến thăm hỏi, bồi thường cho gia đình A V số tiền 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) và cho gia đình A N1 số tiền là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Do vậy HĐXX không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ ra Quyết định xử lý vật chứng và trả lại tài sản là: 01 (Một) xe mô tô biển số: 82B1-583.11, nhãn hiệu Yamaha Exciter, bị hư hỏng do tai nạn giao thông. 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 040069 mang tên A N và các giấy tờ liên quan cho ông A L là chủ sở hữu. Vì vậy HĐXX không xem xét.
[7] Về các vấn đề khác của vụ án: Đối với ông A L, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định, ông A L hoàn toàn không biết việc A D tự ý lấy và điều khiển chiếc xe mô tô biển số 82B1-583.11 của ông để đi lễ tại nhà thờ, sau đó chở A V và A N1 đi chơi rồi gây tai nạn vào ngày 02/7/2023. Do đó, không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông A L về tội giao xe cho người không đủ điều kiện theo quy định tại điều 264 BLHS.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định. Do bị cáo A D là vị thành niên không có tài sản riêng, nên bà Y L1 (mẹ đẻ A D) có trách nhiệm nộp thay án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo A D.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo A D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a, b, khoản 2 Điều 260; Điều 90, Điều 91; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo A D 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo A D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bà Y L1 (mẹ đẻ của A D) có trách nhiệm nộp thay cho bị cáo A D số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/12/2023). Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Y Trinh |
Bản án số 20/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK GLEI, TỈNH KON TUM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 20/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK GLEI, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: A D vi pham quy định tham gia giao thông đường bộ
