Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y
TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 20 / 2022/ HS-ST
Ngày 25-02-2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NGHỆ AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn P.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân D và Ông Phan Văn H.

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh H - Thư ký Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình T, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 04 tháng 6 năm 1994 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm T, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2021 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng khác: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 19 giờ ngày 25/11/2021 Nguyễn Đình T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37S 0922 của bố đẻ đi từ nhà ở của mình tại Xóm T, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An đến nhà ở của Nguyễn Văn Q sinh năm 1984 tại xóm 9, xã C, huyện Y để mua ma tuý về sử dụng. Gặp Q, T hỏi “Có đồ không, để em một cái” (ý hỏi có ma tuý bán không?) thì Q nói “có, mấy”, T nói lấy cho em 200.000đồng. Q đồng ý và đưa cho T một gói giấy màu trắng, bên trong chứa cục bột màu trắng là heroine, T đưa cho Q 200.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý T điều khiển xe mô tô đến khu vực xóm T, xã M để tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã và Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Đình T đang tàng trữ 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa cục bột màu trắng (T khai nhận là ma túy). Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 15/12/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn Q nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì đồng thời tiến hành xác minh đối tượng nhưng hiện nay Nguyễn Văn Q không có mặt tại địa phương.

Tại bản Kết luận giám định số 1528/KL-PC09 (Đ2- MT) ngày 29 tháng 11 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận “Mẫu chất cục bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Đình T gửi đến giám định là ma túy (Heroine); Số chất cục bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Đình T có khối lượng 0,13g (không phẩy mười ba gam)”.

Cáo trạng số 25/CT-VKS-YT ngày 26/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đình T đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo thực hiện vào ngày 25/11/2021 đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày tạm giữ bị cáo 25/11/2021. Không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý thu giữ của Nguyễn Đình T.

Đối với đối tượng đã bán ma tuý cho Nguyễn Đình T là Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984, trú xóm 9, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng hiện tại Q không có mặt tại địa phương, không xác định được đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, đủ cơ sở khẳng định các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là khách quan và hợp pháp.

[2] Nội dung nhận định của Hội đồng xét xử về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án:

[2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Đình T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 20 giờ 10 phút, ngày 25/11/2021 tại xóm T, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An, Phù hợp bản kết luận giám định số 1528/KL-PC09 (Đ2- MT) ngày 29 tháng 11 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ để xác định: Vào hồi 20 giờ 10 phút ngày 25/11/2021 Nguyễn Đình T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,13g (không phẩy mười ba gam) Heroine.

[2.2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[2.2.1] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội và chế độ quản lý đặc biệt đối với chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng không chịu tu dưỡng bản thân mà lại lao vào con đường phạm tội. Hành vi tàng trữ 0,13g (không phẩy mười ba gam) Heroine của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Bị cáo là người trực tiếp giao dịch với người bán ma túy. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự với mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vì vậy, cần phải nghiêm khắc với bị cáo, nhất thiết phải xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[2.2.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Đình T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.2.3] Về tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó cần cho bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[2.3.] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự qui định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đến 500.000.000đ”, cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung nêu trên. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng. Do đó hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc hình phạt khác đối với bị cáo.

[2.4.] Về vật chứng, xử lý vật chứng: 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa ma tuý (heroine) có khối lượng lượng 0,13g (không phẩy mười ba gam), trong đó đã lấy mẫu đi giám định 0,08g (không phẩy không tám gam) không hoàn lại, số ma tuý còn lại có khối lượng 0,05g (không phẩy không năm gam)”. Xét thấy: Đây là vật chứng bị Nhà nước cấm tàng trữ trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

[2.5.] Về những vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma tuý cho Nguyễn Đình T là Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984, trú xóm 9, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng hiện tại Q không có mặt tại địa phương, không xác định được đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

[3.] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

[4.] Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 16 (mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 25/11/2021.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa ma tuý (heroine) có khối lượng lượng 0,13g (không phẩy mười ba gam), trong đó đã lấy mẫu đi giám định 0,08g (không phẩy không tám gam) không hoàn lại, số ma tuý còn lại có khối lượng 0,05g (không phẩy không năm gam)”.

Vật chứng đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện Y quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng đề ngày 25/02/2022 giữa cơ quan CSĐT công an huyện Y và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Y.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An;
- Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
- Trại tạm giam Công an Nghệ An;
- Viện kiểm sát nhân dân h. Y;
- Công an huyện Y;
- Chi cục THADS Y;
- THA hình sự;
- Bị cáo;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Ngô Văn P
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Đình Thanh Trần Văn Hân Ngô Văn Phú
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20 / 2022/ HS-ST ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 20 / 2022/ HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Tiến phạm tôi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger