Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 20/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 09/6/2021

V/v: Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Mông Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Lý và bà Phạm Thị Nga

- Thư ký ghi phiên tòa: Bà Bùi Thái Bình - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: bà Lỗ Thị Loan - Kiểm sát viên

Ngày 9 tháng 6 năm 2021 tại Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 447/2020/TLST- HNGĐ, ngày 18 tháng 12 năm 2020, về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21 /2021/QĐXX-ST ngày 17 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: anh Nguyễn Trung T - sinh năm 1979
Địa chỉ: tổ 01, phường T H, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; có mặt.

Bị đơn: chị Bùi Thị H - sinh năm 1981
Địa chỉ: số nhà 06, ngõ 53, P H T, tổ 16, phường HN, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Anh Nguyễn Trung T nộp đơn xin ly hôn với chị Bùi Thị Thu H tại Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình. Trong đơn và bản tự khai nêu nội dung: anh T và chị H đăng kí kết hôn ngày 21/12/2009 tại Ủy ban nhân dân phường Tân Hòa, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có thời gian tìm hiểu. chung sống hạnh phúc trong thời gian 04 năm đầu. Đến năm 2013 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, do luôn xảy ra bất đồng trong cuộc sống. Tháng 10 năm 2015 vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Xác định thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể tiếp tục vì sẽ gây nguy hại cho cả hai bên và ảnh hưởng đến đời sống của con sau này, anh Thành đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: có một con chung là Nguyễn Tấn D – sinh ngày 17/4/2011. Hiện nay con đang ở với bố. Nguyện vọng của anh T muốn được nuôi con chung và không yêu cầu chị Huyền đóng góp tiền nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung không có gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Bùi Thị Thu H có lời khai xác nhận thời gian, địa điểm và hoàn cảnh kết hôn đúng như anh Thành đã khai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ đẻ chị H. Tình cảm vợ chồng mấy năm đầu chung sống hạnh phúc. Đến năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh T nói những lời không đúng mực, chị H đã phải nín nhịn nhưng sau đó cũng vẫn xảy ra xô sát vợ chồng. Anh T là người không chịu hiểu nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên căng thẳng và đã ly thân nhau từ năm 2015 đến nay.

Về con chung: có một con chung là Nguyễn Tấn D – sinh ngày 17/4/2011. Hiện nay con đang ở với bố. Nguyện vọng chị Huyền muốn được nuôi con chung vì từ khi mới sinh ra cháu được mẹ và ông bà ngoại chăm sóc nuôi dưỡng. Những lúc chị H đi làm xa thì đều do ông bà ngoại giúp đỡ chăm sóc, nuôi dạy con. Từ khi anh T đem con về bên nhà nội đã ngăn cản không cho mẹ và ông bà ngoại gặp gỡ cháu D. Việc anh T đem đơn đề nghị của con đến nộp cho Tòa án ghi nguyện vọng muốn ở với bố chỉ là do ép buộc, cháu sợ nên không dám bày tỏ nguyện vọng của mình.

Tại biên bản hòa giải ngày 19/4/2021, hai bên thống nhất ly hôn. Tài sản, công nợ chung không có; không thống nhất được việc nuôi con chung. Anh T không đồng ý cho con ở nhà ngoại vì cho rằng bên nhà ngoại ông bà thường xuyên lục đục, chị Huyền trước đây đã bị bệnh trầm cảm nên ảnh hưởng xấu đến con; chị Huyền thường xuyên đi làm xa không chăm sóc con được. Anh Thành thỉnh thoảng có đi công tác xa đột xuất vẫn nhờ ông nội của cháu đưa đón đi học, việc học của con anh Thành vẫn thường xuyên bảo ban theo sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận và ý kiến của các đương sự, của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân gia đình; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn, hai bên đã xác định không thể hàn gắn được và đã ly thân từ trong khoảng thời gian dài chứng tỏ khả năng đoàn tụ không còn, nên cần chấp nhận việc thuận tình ly hôn của anh Thành và chị Huyền.

[3] Về con chung: Anh Thành và chị Huyền có một con chung là Nguyễn Tấn Dũng – sinh ngày 17/4/2011. Trên cơ sở nguyện vọng của cháu Dũng vừa muốn ở với mẹ nhưng cũng muốn ở với bố, nhưng xét thấy trong thời gian anh Thành đem con về chung sống bên nhà nội đã để xảy ra tình trạng cháu Dũng có những biểu hiện về tinh thần luôn lo lắng sợ sệt, học hành sút kém. Để đảm bảo cho cháu Dũng có sự chăm sóc về thể chất và có điều kiện học hành tốt hơn, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải giao con chung cho chị Huyền trực tiếp nuôi dưỡng.

[4] Về tài sản chung: Các đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 51; Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Trung T và chị Bùi Thị Thu H.
  2. Về con chung: Giao con Nguyễn Tấn D – sinh ngày 17/4/2011 cho chị Bùi Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn Trung T có quyền thăm nom chăm sóc con chung. Tiền phí tổn nuôi con do chị H không yêu cầu nên không đề cập.
  3. Về án phí: Anh Nguyễn Trung T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0004143 ngày 16/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND thành phố Hòa Bình;
  • - THADS tp. Hòa Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Mông Thị Dung
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2021/HNGĐ-ST ngày 09/06/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về ly hôn

  • Số bản án: 20/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger