|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 20/2021/HNGĐ-PT Ngày 5 tháng 7 năm 2021 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử Phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Ái;
Các Thẩm phán: Ông Tạ Văn Thành; Ông Nguyễn Việt Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quỳnh Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 5 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2021/TLPT- HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 12/2021/HNGĐ-ST ngày 02/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện T bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 27/2021/QĐXXPT- HNGĐ ngày 16/6/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Tổ 10, khu Q, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
Bị đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1957
Địa chỉ: Khu 2 xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Bùi Đình P, sinh năm 1961
Địa chỉ: Khu 2 xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
Người kháng cáo: Bị đơn ông Bùi Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn bà Trần Thị Kim H trình bày:
Bà và ông Bùi Văn T kết hôn với nhau ngày 28/5/2008, đăng ký tại UBND phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Trước khi kết hôn với bà, ông T đã có vợ và 04 con riêng, vợ cũ ông T đã chết năm 1997. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống chung tại nhà của bố mẹ ông T tại khu 2 xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Ban đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận nhưng chỉ được thời gian ngắn, sau đó thường cãi nhau do lối sống, suy nghĩ không thống nhất. Từ khoảng tháng 3 năm 2020 vợ chồng bà mâu thuẫn trầm trọng do ông T đuổi bà về quê, vợ chồng bà ly thân từ tháng 7/2020, bà và con chuyển về sống tại nhà mẹ đẻ bà thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin được ly hôn ông T.
Về con chung: Bà và ông T đã có với nhau 01 con chung là: Bùi Trần Hồng N sinh ngày 03/9/2011. Nếu vợ chồng ly hôn, bà xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà có tài sản chung là 01 nhà bếp xây 03 gian cấp bốn, 01 nhà kho, 02 gian chuồng trâu, bể nước xây, 01 lán xe trâu, khoảng 80m tường rào xây, 617,2m2 đất thổ cư tại khu 2 xã L. Khi ly hôn bà yêu cầu phân chia theo quy định của pháp luật.
Về nợ chung: Vợ chồng bà có nợ chung của ông Bùi Đình P 90.000.000đ. Khi ly hôn bà yêu cầu phân chia theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn ông Bùi Văn T trình bày:
Ông thừa nhận lời trình bày của bà H là đúng về thời gian kết hôn, con chung, công sức. Mâu thuẫn vợ chồng là do lối sống không hợp, hay cãi nhau. Vợ chồng ông đã ly thân từ tháng 7/2020. Nay bà H xin ly hôn, ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông đồng ý để bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N, ông không cấp dưỡng nuôi con vì ông đã lớn tuổi, không có thu nhập.
Về tài sản chung: Ông xin sở hữu toàn bộ, không phải thanh toán chênh lệch tài sản cho bà H vì đất đai có nguồn gốc bố mẹ ông để lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của Ông Bùi Văn T trong thời hạn luật định, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo: Ông Bùi Văn T không nhất trí việc giao cho bà Trần Thị Kim H được sở hữu và sử dụng 132,3m2 đất thổ cư, không nhất trí phải cấp dưỡng nuôi chung cùng bà H là 750.000đ/tháng và xin miễn án phí vì là người cao tuổi.
Xét thấy: Việc giao nuôi con chung cho bà H là phù hợp. Tuy nhiên, ông T là người cao tuổi, không có thu nhập ổn định, nhưng nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chưa trưởng thành là bắt buộc. Về tài sản, nguồn gốc đất là của bố mẹ ông T để lại nên cần chia cho ông T phần nhiều hơn và ông T thanh toán chênh lệch cho bà H.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Chấp nhận kháng cáo của Ông Bùi Văn T, sửa Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 12/2021/HNGĐ-ST ngày 02/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện T tỉnh Phú Thọ.
[1]. Con chung: Xử Giao cho bà Trần Thị Kim H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Bùi Trần Hồng N sinh ngày 03/9/2011. Ông Bùi Văn T phải cấp dưỡng nuôi chung cùng bà H là 750.000đ/tháng cho đến khi cháu N trưởng thành.
[2]. Về tài sản chung, nợ chung: Giao cho bà Trần Thị Kim H được sở hữu và sử dụng: 29,9 m tường rào xây và 132,3 m2 đất thổ cư. Giao cho Ông Bùi Văn T được sở hữu và sử dụng các công trình xây dựng trên đất và 452,4m2 đất thổ cư. Ông Bùi Văn T có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho bà Trần Thị Kim H là 12.000.000đ.
[3]. Án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm đối với Ông Bùi Văn T do là người cao tuổi.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - TAND huyện T; - Chi cục THADS H.T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, AV. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Kim Ái |
Bản án số 20/2021/HNGĐ-PT ngày 05/07/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 20/2021/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Kim Hoa xin ly hôn Bùi Văn Thịnh
