Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG-THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HS-ST

Ngày: 02-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huỳnh Sinh và ông Trần Hoàng Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc T - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 01 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 212/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2023/QĐXXST-HS ngày 19-12-2023 đối với:

Bị cáo: Lê Văn H, sinh năm 1977 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố F, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn H1 (chết) và bà Phạm Thị M (chết); Vợ bà Võ Thị H2 có 03 con; Tiền sự: không;

Tiền án: Ngày 08-4-2021, bị Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - T xử phạt 06 tháng tù về “Tội cố ý gây thương tích” tại Bản án số 62/2021/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27-02-2022.

Nhân thân: Ngày 24-3-2003, bị Toà án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về “Tội cố ý gây thương tích” tại Bản án số: 360/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31-8-2005.

Bị cáo bị tạm giam ngày 28-9-2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P – T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lâm Thế N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N (có mặt).

Bị hại: Ông Huỳnh Văn L, sinh năm: 1974 (có mặt).

Nơi cư trú: Khu phố F, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Duy P, sinh năm: 1968 (có mặt).

Bà Nguyễn Thị Huyền A, sinh năm: 1973 (có mặt).

Ông Huỳnh Thạch T1, sinh năm: 1994 (có mặt).

Cùng nơi cư trú: Khu phố F, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 05-8-2023, sau khi nhậu xong, Lê Văn H đang ở nhà thuộc khu phố F, phường Đ, thành phố P - T thì nghe thấy ở bên ngoài ông Huỳnh Văn L nói “Chửi gì mà chửi”, nghĩ rằng ông L chửi mình và nhớ tới việc đầu năm 2022, LH có cãi nhau nên H chạy đến ôm vật ông L ngã xuống đất. Lúc này, ông Nguyễn Duy P, bà Nguyễn Thị Huyền A chạy đến can ngăn hai bên. Sau đó, H chạy về nhà, lấy 01 con dao, lưỡi bằng kim loại dài 42 cm, cán bằng gỗ chạy đến chỗ ông L đang ngồi, H cầm con dao chém 02 nhát thì trúng 01 nhát vào tay trái ông L gây thương tích. Sau khi gây thương tích, H đi về nhà, do nhận thấy hành vi của mình không đúng nên H đi ra gặp, xin lỗi ông L. Khi biết sự việc trên, Huỳnh Thạch T1 (là con ông L) đi ra đưa ông L về nhà, thấy vết thương của ông L nặng, bực tức T1 cầm 01 con dao thái lan, lưỡi bằng kim loại dài 11cm, cán bằng nhựa với mục đích tìm đánh H nhưng được bà Huyền A can ngăn. Khi đó, T1 cầm 01 nón bảo hiểm đánh vài cái trúng vào vùng mặt, đầu H gây thương tích thì được mọi người can ngăn. Sau khi xảy ra sự việc, ông L được người nhà đưa đến điều trị vết thương tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N.

Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 197/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 13-9-2023 của Trung tâm G, Sở Y, xác định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Huỳnh Văn L là 38%, vết thương cụ thể như sau:

“Vết thương ngang mặt sau khuỷu tay trái kích thước (17,5x0,6)cm (03%); Vết mổ dọc mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái nối với vết thương kích thước (5,2x0,1)cm (02%); Vết mổ dẫn lưu 1/3 trên mặt sau cẳng tay trái kích thước (0,6x0,1) cm (01%); Gãy đầu dưới xương cánh tay trái đã mổ, chưa có cal, còn phương tiện kết hợp xương (21%); Gãy mỏm khuỷu xương trụ trái đã mổ, chưa có cal, còn phương tiện kết hợp xương (06%); Điện cơ thần kinh: Điện cơ hiện tại có bằng chứng tổn thương dây thần kinh trụ bên trái, vị trí tổn thương tương ứng vùng khuỷu tay trái (11%). Cơ chế hình thành vết thương: nhận định do vật sắc gây nên”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến, hay khiếu nại gì về Kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, ông Huỳnh Văn L đê nghị về hình sự: xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H; về dân sự: đã nhận đủ số tiên bồi thường và không yêu câu thêm.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng số 200/CT-VKSPR ngày 27-11-2023 của Viện kiểm sát thành phố P - T: Đê nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”; căn cứ: điểm c khoản 3 (điểm a, i khoản 1) Điều 134; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù giam. Và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Hoà đồng ý về tội danh đối với bị cáo H, đê nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, là hộ cận nghèo, là lao động chính nuôi gia đình, áp dụng Điều 54 giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận; Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo xin lỗi bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P – T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Mặc dù không có mâu thuẫn với ông Huỳnh Văn L, nhưng khoảng 21 giờ ngày 05-8-2023, tại khu phố F, phường Đ, thành phố P - T, Lê Văn H đã thực hiện hành vi dùng 01 con dao (là hung khí nguy hiểm) chém ông L gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 38%.

Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 200/CT-VKSPR ngày 27-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố bị cáo Lê Văn H là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội nên cần phải có hình phạt tương xứng với hậu quả mà bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và có nhân thân xấu.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, thuộc hộ cận nghèo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 con dao, lưỡi bằng kim loại dài 42 cm, cán bằng gỗ là công cụ H sử dụng vào việc phạm tội nên phải tịch thu, tiêu huỷ.

Đối với 01 con dao thái lan, lưỡi bằng kim loại dài 11cm, cán bằng nhựa, quá trình điều tra xác định là công cụ Huỳnh Thạch T1 dùng để đánh nhau, Cơ quan điều tra chuyển kèm hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính đối với T1 là phù hợp.

Đối với 01 nón bảo hiểm là công cụ T1 sử dụng để gây thương tích đối với Lê Văn H, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Đối với hành vi của Huỳnh Thạch T1 dùng nón bảo hiểm đánh bị cáo H gây thương tích, quá trình điều tra xác định thương tích của H nhẹ, đồng thời H cũng không yêu cầu giám định thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự đối với T1 nên Cơ quan điều tra sẽ chuyển cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với T1 là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điêu tra, bị hại yêu cầu bị cáo Lê Văn H bồi thường số tiền 20.000.000 đồng. Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Đối với đề nghị của người bào chữa áp dụng tình tiết lao động chính cho bị cáo: thấy rằng bị cáo H có một thời gian dài chấp hành án từ năm 2003 đến năm 2005, từ năm 2021 đến năm 2022, trong thời gian bị cáo chấp hành án, vợ bị cáo có nghề nghiệp là buôn bán, làm thuê để kiếm sống nuôi bản thân, các con và tình tiết lao động chính thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đã được Hội đồng xét xử áp dụng chung cho bị cáo (hộ cận nghèo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt) và do bị cáo có tiền án nên Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo H.

[9] Về án phí: Bị cáo Lê Văn H thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 3 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam ngày 28-9-2023.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao, lưỡi bằng kim loại dài 42 cm, cán bằng gỗ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06-12-2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P – T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T.

Án xử sơ thẩm công khai; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - Công an TP. PR-TC;
  • - Nhà tạm giữ CA TP. PR-TC;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - UBND P. Đạo Long, Tp. PR-TC;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu án văn, hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger