TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1998/2024/DS-ST Ngày : 22-5-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hương Thủy
- Ông Cao Quốc Hưng
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung– Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1691/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1758/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 04 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2433/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Mirae Asset (Việt Nam);
Trụ sở: Số 91, Đường Pasteur, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền:
Bà Bà Huỳnh Thị Hà Vy, sinh năm 2001; Giấy ủy quyền ngày 27/10/2023 – (bà Vy yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Điạ chỉ: Phòng 401, Tầng 4, Tòa nhà 793/49/1 đường Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh;
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bé Thu, sinh năm: 1985
Địa chỉ: 694/9A Nguyễn Xiển, phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt không có lý do;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/9/2023, các văn bản trình bày ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T2 – Bà Huỳnh Thị Hà V trình bày:
Ngày 17/02/2023, bà Nguyễn Thị Bé T và Công ty T2 (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty T2) đã ký đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 4304199 lập ngày 14/02/2023 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng), về việc cấp tín dụng cho bà T với khoản vay trị giá 46.311.000 đồng. Trong đó T1 vay: 43.000.000 đồng, tiền phí bảo hiểm: 3.311.000 đồng. Mục đích vay: Vay tiêu dùng. Lãi suất vay hàng tháng: 3.83%/tháng; Lãi suất theo năm 46%/năm (một năm là 365 ngày). Thời hạn cho vay: Từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 15/02/2025; Ngày thanh toán: Ngày 15 dương lịch hàng tháng; Ngày thanh toán đầu tiên: 15/03/2023. Theo Hợp đồng tín dụng, bà T có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn từ ngày 15/3/2023 đến ngày 15/01/2025 với số tiền là 2.993.895 đồng/tháng và ngày 15/02/2025 thanh toán số tiền là 2.715.450 đồng. Sau khi ký kết, Công ty T2 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà T.
Tuy nhiên, kể từ ngày được giải ngân, bà T mới chỉ thanh toán cho Công ty được 1 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 2.993.895 đồng. Ngày 14/03/2023 là ngày thanh toán cuối cùng, Sau ngày 15/3/2023 đến nay, bà T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Công ty T2.
Công ty T2 đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị bà T thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T2 cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho bà T biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, bà T vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T2.
Việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bà T đã gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T2, do đó Công ty T2 khởi kiện yêu cầu Tòa án:
Buộc bà T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho công ty toàn bộ số tiền (do nợ lãi, phí vẫn tiếp tục phát sinh) đến ngày 22/5/2024 là 73.025.871 đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 44.846.583 đồng; số tiền lãi trong hạn: 19.013.257 đồng; số tiền lãi quá hạn: 7.981.348 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.184.683 đồng.
Buộc bà T phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất, phí thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 4304199 kể từ ngày 23/5/2024 cho đến ngày thực tế trả hết nợ cho Công ty T2.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 239, 240, 241, 242, 247, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 255, 256, 257, 259, 260 và Điều 263 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay theo đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4304199 ngày 17/02/2023, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T, do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự:
Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được triệu tập đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tuy nhiên bà T vắng mặt không rõ lý do. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T2 – Bà Huỳnh Thị Hà V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T, bà V theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và giải quyết khiếu nại nếu có:
Ngày 26/12/2023, Tòa án tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Tuy nhiên, phía bị đơn vắng mặt không lý do. Mặt khác, phía nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Do đó, căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được. Đương sự khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp, đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình theo quy định tại Điều 6, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia quá trình giải quyết vụ án và cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan nhưng vắng mặt, phải chịu trách nhiệm vì sự vắng mặt của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định..
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T2 (VIỆT NAM):
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ Giấy phép số 73/GP-NHNN ngày 12/11/2021 của Ngân hàng N thì Công ty T2 (Việt Nam) được thực hiện các hoạt động của Công ty tài chính tín dụng tiêu dùng theo quy định của pháp luật và của Ngân hàng N, trong đó Công ty được cấp tín dụng dưới hình thức cho vay bao gồm cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng...
Trên cơ sở giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT-CA số OID-B1.0-1D ngày 12/12/2023 của Trung tâm D về việc chứng thực chữ ký số của bà Nguyễn Thị Bé T. Ngày 17/02/2023, Công ty T2 đã ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4304199 lập ngày 14/02/2023 với bà Nguyễn Thị Bé T, có nội dung: Công ty T2 đồng ý cho bà T vay số tiền 46.311.000 đồng. Trong đó T1 vay: 43.000.000 đồng, tiền phí bảo hiểm: 3.311.000 đồng. Lãi suất vay hàng tháng: 3.83%/tháng; Lãi suất theo năm 46%/năm (một năm là 365 ngày); Ngày thanh toán: Ngày 15 dương lịch hàng tháng; Ngày thanh toán đầu tiên: 15/03/2023. Theo Hợp đồng tín dụng, bà T có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn từ ngày 15/3/2023 đến ngày 15/01/2025 với số tiền là 2.993.895 đồng/tháng và ngày 15/02/2025 thanh toán số tiền là 2.715.450 đồng. Như vậy, tại thời điểm ký kết đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4304199 ngày 17/02/2023, các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 117; Điều 118; Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 do đó có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên.
Công ty T2 đã giải ngân số tiền 46.311.000 đồng theo Phiếu báo nợ ngày 17/02/2023 vào tài khoản số [...] của bà T mở tại Ngân hàng S (S1), đồng thời chuyển toàn bộ số tiền bảo hiểm 3.311.000 đồng cho Công ty TNHH B (M) (Căn cứ Hợp đồng bảo hiểm số [...]). Theo bảng tính lãi do nguyên đơn cung cấp, quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã thanh toán cho Công ty T2 số tiền 2.993.895 đồng, trong đó số tiền nợ gốc đã trả: 1.464.417 đồng, số tiền lãi đã trả: 1.517.478 đồng, số tiền phí đã trả: 12.000 đồng. Số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 44.846.583 đồng.
Kể từ ngày 15/3/2023 đến nay bà T không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào cho Công ty T2.
Tòa án đã tiến hành đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về việc khởi kiện của bà T, thông báo về việc công khai chứng cứ và hòa giải và việc triệu tập của Tòa án đến tham dự các phiên họp, phiên tòa nhưng bà T vẫn vắng mặt không rõ ký do và không có văn bản phản đối, do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 không thuộc trường hợp phải chứng minh. Bà T phải chịu trách nhiệm về yêu cầu khởi kiện và những tài liệu chứng cứ mà Công ty T2 đưa ra. Việc bà T không thanh toán đầy đủ khoản vay đã vi phạm thỏa thuận các bên tại Điều 8 Hợp đồng tín dụng; Điều 7 và Điều 11 bản điều khoản và điều kiện cho vay, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T2. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Công ty T2 buộc bà T phải trả cho Công ty T2 số tiền nợ gốc là 44.846.583 đồng.
[2.2] Đối với yêu cầu buộc bà T trả số tiền lãi tạm tính đến ngày 22/5/2024 là 28.179.288 đồng, trong đó tiền lãi trong hạn: 19.013.257 đồng; tiền lãi quá hạn: 7.981.348 đồng; tiền lãi chậm trả: 1.184.683 đồng.
Khoản 3.7 và 3.8 Điều 3 Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng được các bên thỏa thuận mức lãi suất vay như sau:
“Lãi suất vay hàng tháng: Lãi suất vay hàng tháng: 3.83%/tháng; Lãi suất theo năm 46%/năm, (một năm là 365 ngày)”.
Do bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T2 đã chuyển toàn bộ dư nợ còn lại sang nợ quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 8.3 Điều 8 Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng.
Xét, mức lãi suất đã được các bên tự nguyện thỏa thuận, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 13, khoản 5 Điều 14, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà T phải trả cho Công ty Mirae Asset số tiền lãi tạm tính đến ngày 22/5/2024 là: 28.179.288 đồng, trong đó; số tiền lãi trong hạn: 19.013.257 đồng; số tiền lãi quá hạn: 7.981.348 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.184.683 đồng.Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 23/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà T còn phải còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền nợ chưa thi hành theo mức lãi suất được quy định tại đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4304199 lập ngày 17/02/2023.
[2.3] Đối với nội dung phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên được chấp nhận.
[2.4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, Điều 6, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 3, Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 Điều 274, Điều 275, Điều 276, Điều 278, Điều 280, Điều 282, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 13, Điều 20, Điều 21, Điều 23, Điều 32a, Điều 32c, Điều 32e Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018;
Căn cứ khoản 1 Điều 7, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Công ty T2 (Việt Nam):
Buộc bà Nguyễn Thị Bé T phải thanh toán cho Công ty T2 (Việt Nam) tổng số tiền còn nợ đối với Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4304199 lập ngày 17/02/2023, tính tới ngày 24/05/2024 là 73.025.871 đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 44.846.583 đồng; số tiền lãi trong hạn: 19.013.257 đồng; số tiền lãi quá hạn: 7.981.348 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.184.683 đồng.
Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 23/5/2024, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bà Nguyễn Thị Bé T còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền và thời gian chậm thi hành theo mức lãi suất được quy định tại đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4304199 lập ngày 17/02/2023.
Các bên thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Bé T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.561.294 đồng (Ba triệu năm trăm sáu mươi mốt ngàn hai trăm chín mươi tư đồng). Bà T chưa nộp án phí.
- Hoàn trả lại cho nguyên đơn Công ty T2 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.350.524 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi ngàn năm trăm hai mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006101 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Ngọc |
Bản án số 1998/2024/DS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1998/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
