Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1994/2024/HNGĐ-ST

Ngày 22 - 5 – 2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Phước.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh N - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 2766/2023/TLST-HNGĐ ngày 15/11/2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1861/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 2571/2024/QÐST – HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Bảo K, sinh năm: 1975;

Địa chỉ: A đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T; sinh năm: 1974;

Địa chỉ: Số D đường số C, Khu phố G, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2023, bản tự khai, biên bản không thể tiến hành hòa giải, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Trần Bảo K trình bày:

Ông và bà T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 375, quyển số 2 ngày 25/7/2005. Thời gian đầu vợ chồng chung sống khá hạnh phúc tại địa chỉ 49/3, đường số C, Khu phố G, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2014, bà T đã bỏ đi không nói lý do, từ đó, ông và bà T đã không còn chung sống với nhau, mạnh ai nấy sống, không ai còn quan tâm đến ai. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn và đoàn tụ nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn dứt khoát với bà T để ông ổn định cuộc sống. Năm 2023, ông đã yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tuyên bố mất tích đối với bà T. Ngày 01/8/2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức ban hành Quyết định số 2763/2023/QĐST – DS, về việc tuyên bố bà T mất tích.

Về con chung: Ông Trần Bảo K xác định ông và bà T có 01 con chung tên Trần Thị Hồng Đ, sinh ngày 20/3/1997. Con đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: T1 khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Nguyễn Thị T vắng trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

  • Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Bảo K được ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị T.
  • Về con chung: Con chung đã trưởng thành nên muốn ở với ai tùy ý.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Ông K tự khai không có. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ông Trần Bảo K xin ly hôn bà Nguyễn Thị T, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 2763/2023/QĐST – DS ngày 01/8/2023 về việc tuyên bố một người mất tích của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thì bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974, nơi cư trú cuối cùng: Số D, Đường số C, Khu phố G, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh tranh chấp của vợ chồng. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm sát việc tuân theo pháp luật là phù hợp quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bà Nguyễn Thị T nhưng bà T vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Nguyễn Thị T.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Bảo K yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị T. Hội đồng xét xử xét thấy: Năm 2005, ông K và bà T tự nguyện về chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 375, quyển số 02 ngày 25/7/2005. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân của ông K và bà T được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Ông K xác định cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc cho cả hai vợ chồng, mục đích hôn nhân cũng không đạt được, hai bên thường xuyên bất đồng quan điểm nên không tìm được tiếng nói chung của vợ chồng. Từ năm 2014, bà T đã bỏ nhà đi, không liên lạc với gia đình và Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tuyên bố bà Nguyễn Thị T mất tích theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 2763/2023/QÐST – DS ngày 01/8/2023, theo đó bà Nguyễn Thị T đã mất tích . Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015quy định "Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình" và căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014có quy định: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Bảo K được ly hôn bà Nguyễn Thị T. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở.

- Về con chung: Căn cứ vào lời trình bày của ông K và tài liệu có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: ông K và bà T có 01 con chung tên Trần Thị Hồng Đ, sinh ngày 20/3/1997. Nay con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức về phần con chung là có cơ sở.

3

- Về tài sản chung, nợ chung: ông K tự khai không có, bà T không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở và phù hợp với các quy định pháp luật nên được chấp nhận.

[3] Về án phí sơ thẩm:

Án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), ông Trần Bảo K chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông K đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2023/0000609 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông K đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 và Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015

- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Bảo K về việc ly hôn: Ông Trần Bảo K được ly hôn bà Nguyễn Thị T (Giấy chứng nhận kết hôn số 375, quyển số 02 ngày 25/7/2005 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu theo không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án phát sinh hiệu lực pháp luật).

Về con chung: Ông Trần Bảo K và bà Nguyễn Thị T có 01 con chung tên Trần Thị Hồng Đ, sinh ngày 20/3/1997. Nay con chung đã trưởng thành nên muốn ở với ai tùy ý.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông K tự khai không có.

2. Án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), ông Trần Bảo K chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông K đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2023/0000609 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông K đã nộp đủ án phí.

4

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Ông Trần Bảo K được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.

Bà Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản án hợp lệ.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - TANDTPHCM;
  • - UBND xã Vĩnh Phú Tây,
  • huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Hà Thị Hoài

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1994/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 1994/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Bảo K-Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger