Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 199/2024/HNGĐ-ST

Ngày 31-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp

nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Đặng Huy Du

Bà Nguyễn Thị Luyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên

tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 152/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 94/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích N, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện

T, thành phố Hải Phòng.

- Bị đơn: Anh Trần Văn N1, sinh năm 1992; nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã M, huyện T,

thành phố Hải Phòng; hiện đang cư trú tại Australia.

Chị Trần Thị Bích N vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Trần Văn N1 vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị Bích N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bích N và anh Trần Văn N1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 22/02/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, lối sống, tính cách không phù hợp, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Cuối năm 2022, anh N1 sang Úc lao động, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Chị N hiện không liên lạc với anh N1, mọi việc liên quan đến con cái và gia đình anh N1 đều liên lạc qua mẹ đẻ anh N1 là bà Nguyễn Thị H nên chị N không biết được địa chỉ của anh N1 tại Úc để cung cấp cho Tòa án. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn N1.

Về con chung: Chị N và anh N1 có 01 con chung tên là Trần Tố D, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2021. Khi ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi cháu D do anh N1 hiện đang ở nước ngoài. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị N và anh N1 trình bày anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Trần Văn N1 trong quá trình giải quyết vụ án:

Theo Công văn số 12316/QLXNC-P3 ngày 17/6/2024 của Cục Q - Bộ C thể hiện anh Trần Văn N1, sinh ngày 13/3/1992, đã xuất cảnh ngày 04/12/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho bà Nguyễn Thị H là mẹ đẻ của anh Trần Văn N1. Tại Biên bản ghi lời khai ngày 06/6/2024, bà H trình bày: Anh N1 và chị Trần Thị Bích N kết hôn do tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 22/02/2021. Sau khi kết hôn anh N1 và chị N chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính cách. Đến khoảng tháng 12/2022, anh N1 sang Úc lao động, anh chị sống ly thân từ đó đến nay. Bà H đã thông báo cho anh N1 biết việc chị N xin ly hôn anh N1 tại Tòa án. Quan điểm của anh N1 là đồng ý với nội dung đơn xin ly hôn của chị N. Gia đình không có ý kiến gì nếu như chị N và anh N1 muốn ly hôn. Về con chung: Anh N1 và chị N có 01 con chung tên là Trần Tố D, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2021, đang ở với chị N, do anh N1 hiện đang ở nước ngoài nên trường hợp ly hôn, đề nghị Toà án giao cháu D cho chị N nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Bà H không nắm được, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về địa chỉ nơi cư trú của anh N1: Gia đình không nắm rõ được địa chỉ anh N1 ở Úc nhưng vẫn liên lạc được với anh N1 qua điện thoại và thường xuyên trao đổi với anh N1 về các nội dung Tòa án thông báo nên anh N1 đã cung cấp các quan điểm như trên. Gia đình cũng đã yêu cầu anh N1 cung cấp địa chỉ tại Úc nhưng anh N1 không cung cấp địa chỉ chính xác cho gia đình được biết. Địa chỉ ĐKHKTT và nơi ở của anh N1 trước khi đi Úc là: Thôn B, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Do chị Trần Thị Bích N đề nghị không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.

Tại phiên tòa, chị Trần Thị Bích N và anh Trần Văn N1 vắng mặt, Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng về việc giải quyết vụ án:

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị Trần Thị Bích N và anh Trần Văn N1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 22/02/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, anh N1 đã sang Úc để lao động và anh chị sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan hệ gì về mặt tình cảm và kinh tế. Xét thấy: Hôn nhân giữa chị N và anh N1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N. Về con chung: Anh, chị có 01 con chung tên là Trần Tố D, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2021, hiện đang ở với chị N, khi ly hôn chị N đề nghị được nuôi con chung do anh N1 đang ở nước ngoài và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy: Cháu D hiện nay vẫn ở cùng mẹ, anh N1 mặc dù biết chị N xin ly hôn nhưng không có quan điểm gì về vấn đề hôn nhân và con chung, do đó cần tiếp tục giao cháu D cho chị N nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Anh chị không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1]Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị Bích N xin ly hôn anh Trần Văn N1 hiện đang cư trú tại Úc (theo Công văn số 12316/QLXNC-P3 ngày 17/6/2024 của Cục Q - Bộ C thể hiện anh Trần Văn N1, sinh ngày 13/3/1992, đã xuất cảnh ngày 04/12/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước). Địa chỉ nơi ĐKHKTT và nơi ở của anh N1 trước khi đi Úc là: Thôn B, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là chị Trần Thị Bích N và bị đơn là anh Trần Văn N1 cùng vắng mặt tại phiên tòa, chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt còn anh N1 vắng mặt không có lý do nhưng đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Theo lời khai của chị Trần Thị Bích N và tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, anh chị có kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 22/02/2021, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, không tìm được tiếng nói chung. Sau đó, cuối năm 2022, anh N1 đi Úc để lao động. Chị N và anh N1 sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Do đó, có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa chị Trần Thị Bích N và anh Trần Văn N1 không hạnh phúc, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị N được ly hôn anh Trần Văn N1.

[4] Về con chung: Chị Trần Thị Bích N và anh Trần Văn N1 có 01 con chung tên là Trần Tố D, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2021, hiện con chung đang ở với chị N do anh N1 không có mặt tại Việt Nam. Chị N đề nghị được nuôi cháu D và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của gia đình anh N1 nên cần áp dụng Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình giao con Trần Tố D cho chị N trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị N và anh N1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử tạm thời không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị Trần Thị Bích N và anh Trần Văn N1 tự thoả thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm:

[6] Chị Trần Thị Bích N là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo của các đương sự:

[7] Chị Trần Thị Bích N và anh Trần Văn N1 được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích N, cụ thể:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bích N được ly hôn anh Trần Văn N1.
  2. Về con chung: Giao con chung tên là Trần Tố D, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2021 cho chị Trần Thị Bích N trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Bích N không yêu cầu, nên tạm thời Tòa án không giải quyết.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Bích N và anh Trần Văn N1 không yêu cầu, nên Tòa án không giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Trần Thị Bích N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000406 ngày 29/5/2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

    Chị Trần Thị Bích N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Anh Trần Văn N1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Mỹ Đồng, huyện Thuỷ
  • Nguyên, thành phố Hải Phòng
  • (ĐKKH ngày 22/02/2021);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 199/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger