Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 199/2024/ HS-PT

Ngày: 28/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Minh Long
Các thẩm phán: Ông Trần Hữu Vinh
Ông Phan Vĩnh Chuyển

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hồng Lĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 180/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lê Hồng P và Trương Quỳnh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Lê Hồng P (tên gọi khác: M) – Sinh ngày: 24/11/1988 tại thành phố Đà Nẵng; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: K62/1D N, tổ G, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở: Số C N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Hồng P1 (SN: 1960, còn sống) và bà Lê Thị Bích T1 (SN 1962, còn sống); Gia đình có 04 anh, em; bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 02/4/2016, bị Cơ quan CSĐT Công an quận T khởi tố về tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 111 Bộ luật Hình sự 1999. Ngày 01/9/2016, TAND quận Thanh Khê ra Quyết định đình chỉ số 02/2016/HSST-QĐ đình chỉ vụ án đối với Lê Hồng P. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023, có mặt tại phiên tòa.

2. Trương Quỳnh T (tên gọi khác: Không) – Sinh ngày: 01/7/1996 tại tỉnh Quảng Nam; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: Tổ I, khối phố A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở: K N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trương Sỹ P2 (SN: 1973, còn sống) và bà Nguyễn Thị T2 (SN 1975, còn

sống); Gia đình có 03 chị, em. bị cáo là con thứ nhất. Bị cáo có chồng là Bùi Văn O (sinh năm: 1989, đã ly hôn). Có 01 con sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/01/2019, bị Công an quận N, thành phố Đà Nẵng xử phạt 2.250.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023, có mặt tại phiên tòa.

* Trong vụ án còn có các bị cáo Cao Trọng N, Phạm Thị Cẩm N1, Châu Nhuận P3, Trịnh Thị Yến N2 nhưng các bị cáo này không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cao Trọng N, Lê Hồng P, Trương Quỳnh T, Phạm Thị Cẩm N1, Trịnh Thị Yến N2 có mối quan hệ bạn bè. Khoảng 10h00 ngày 25/12/2023, sau khi vui chơi Giáng sinh tại quán Bar C số B Đ, thành phố Đà Nẵng thì T, N1, P và N bàn bạc, thống nhất về nhà P để sử dụng ma túy (lúc này N2 ra ngoài không tham gia việc bàn bạc). N liên hệ B (không rõ lai lịch) qua ứng dụng Telegram đặt mua ma túy nước vui, pha vào chai nước Fanta loại 1,5 lít và nói với N1, P, T đem về trước (N1 là người trực tiếp đem về), N dọn quán rồi về sau. Một lát sau, N lên xe đi về thì gặp N2 nên rủ N2 cùng đi đến nhà P sử dụng ma túy, N2 đồng ý. Lúc này, T liên lạc qua ứng dụng M1 và đọc địa chỉ nhà P cho N. Trên đường đi, N nói với N2 là N đem theo 04 gói ma túy nước vui qua nhà P cho mọi người cùng sử dụng, đồng thời N gọi rủ Châu Nhuận P3 qua nhà P chơi cùng và nhờ P3 mua nước ngọt Fanta để pha ma túy nước vui.

Khi N cùng N2 đến nhà P tại số C đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng và lên phòng ngủ tầng 2 thì N đặt một gói thuốc lá bên trong có 04 gói ma túy nước vui lên bàn cạnh giường của P và nói với P, T, N1 “N có đem thêm 04 gói ma túy nước vui, mọi người sử dụng thoải mái nhé”. Tại đây, P chuẩn bị sẵn loa, đèn (01 loa màu trắng có chữ Marshall, 01 đèn màu trắng), bật nhạc lên; N lấy chai nước vui pha sẵn rót ra ly thủy tinh (có sẵn của nhà P) cho N2 sử dụng, sau đó N2 tiếp tục rót ma túy nước vui lần lượt đưa cho T, N1, P sử dụng. Tiếp đó, T và N1 bàn bạc mua thêm ma túy Ketamine về sử dụng và nhờ N liên hệ mua giúp. N liên hệ một thanh niên tên R (không rõ lai lịch) qua ứng dụng Telegram mua nửa hộp năm ma túy Ketamine với giá 3.000.000 đồng, đồng thời N liên hệ với một thanh niên tên R1 (không rõ lai lịch) để mua 02 bình khí cười, tất cả hẹn giao tại nhà P. N nói với cả nhóm “Chơi xong mọi người chung tiền để N trả tiền Ketamine nhé”, T, N1, N2 đều đồng ý. Đến khoảng 13h00 cùng ngày, P3 cùng Nguyễn Thị Thu V (vợ của P3, P3 rủ qua nhà Phú chơi, V không biết việc P3 mua nước ngọt F đem đến để pha ma túy) đi grap đến trước cổng nhà P, khi P3 đứng hút thuốc ở vỉa hè, còn V vào trong chờ N xuống mở cửa, thì R đến hỏi P3 là “chơi cùng với N à”, P3 nói “ừ” thì R bỏ một gói ni lông vào túi đựng nước ngọt của P3. Lúc này, có nam thành niên giao 02 bình khí cười màu vàng đến, P3 cùng N đem 02 bình khí cười lên, P3 vứt gói ma túy

Ketamine lên giường của P. T rót 02 ly nước vui đưa cho P3 và V sử dụng. Tiếp đến, P lấy đĩa nhựa và ống hút đưa cho T, T tự lấy thẻ của P và bật lửa ga có sẵn xào ma túy Ketamine, N1 cầm điện thoại soi đèn cho T xào, T kẻ thành nhiều đường nhỏ rồi để ra giữa cho mọi người tự lấy sử dụng, riêng N và N2 không sử dụng Ketamine. Đến khoảng 17h00 cùng ngày thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận H phối hợp với Công an phường H kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Qua thử test, các đối tượng Lê Hồng P, Cao Trọng N, Châu Nhuận P3, Trương Quỳnh T, Phạm Thị Cẩm N1, Trịnh Thị Yến N2, Nguyễn Thị Thu V đều dương tính với chất ma túy, loại Ketamine.

Bản Kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 03.01.2024 của Phòng K1 Công an thành phố Đ kết luận: Trên cái đĩa sứ màu trắng; thẻ nhựa màu xanh; ống hút nhựa; ly thuỷ tinh trong mẫu niêm phong ký hiệu B gửi giám định có bám dính chất ma tuý, loại Methamphetamine và Ketamine. Không xác định được khối lượng.

Bản Kết luận giám định số 2685/KL-KTHS ngày 03.01.2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP . kết luận:

- Chất rắn dạng bột màu cam trong mẫu ký hiệu A gửi giám định đều có tìm thấy ma tuý, loại: Methamphetamine, MDMA và Ketamine; tổng khối lượng mẫu là 6,55 gam; hàm lượng trung bình và khối lượng từng chất ma tuý như sau:

Chất ma tuý Hàm lượng (%) Khối lượng (gam)
Methamphetamine 0,8 0,052
MDMA 12,8 0,838
Ketamine 24,0 1,572

- Chất lỏng màu cam trong mẫu ký hiệu C gửi giám định có tìm thấy ma tuý, loại: Methamphetamine, MDMA, Ketamine và N3; thể tích mẫu là 300ml; nồng độ và khối lượng từng chất ma tuý như sau:

Chất ma tuý Nồng độ (mg/mL) Khối lượng (gam)
Methamphetamine 0,01 0,003
MDMA 0,10 0,030
Ketamine 0,83 0,249
Nimetazepam 0,11 0,033

* Tại Bản Cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 12 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Cao Trọng N, Lê Hồng P, Trương Quỳnh T, Phạm Thị Cẩm N1, Trịnh Thị Yến N2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và Châu Nhuận P3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 25/7/2024, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

- Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt: Lê Hồng P (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép

chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25 tháng 12 năm 2023.

- Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt: Trương Quỳnh T 06 (sáu) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25 tháng 12 năm 2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Cao Trọng N, Phạm Thị Cẩm N1, Châu Nhuận P3, Trịnh Thị Yến N2 nhưng các bị cáo này không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị; về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

- Ngày 29/7/2024, các bị cáo Lê Hồng P và Trương Quỳnh T có đơn kháng cáo với cùng nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.

- Ngày 30/7/2024 bị cáo Cao Trọng N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 23/8/2024 bị cáo N có Văn bản xin rút kháng cáo (Tòa án quận Hải Châu nhận văn bản ngày 23/8/2024); ngày 26/8/2024 Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã ban hành Văn bản về việc bị cáo Cao Trọng N rút đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị Lê Hồng P và Trương Quỳnh T cùng các đồng phạm khác về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; các bị cáo P và T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo P và T là phù hợp, nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng 10 giờ ngày 25/12/2023, tại quán Bar C số B đường Đ, thành phố Đà Nẵng, Cao Trọng N, Lê Hồng P, Trương Quỳnh T, Phạm Thị Cẩm N1 bàn bạc, thống nhất đến nhà của P tại địa chỉ số C đường N, phường H, quận H, TP Đà Nẵng để cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó: N chuẩn bị ma tuý loại nước vui (gồm các thành phần ma túy: Methamphetamine, K, MDMA, Nimetazepam) và ma túy loại Ketamine, rủ Trịnh Thị Yến N2, Châu Nhuận P3 và rót ma túy cho N2 sử dụng; P chuẩn bị địa điểm và cung cấp các dụng cụ loa, đèn, đĩa sứ, ống hút, thẻ nhựa, ly thủy tinh; T, N1 khởi xướng việc mua ma túy Ketamine, T xào ma túy Ketamine, rót ma túy nước vui; N1 mang ma túy nước vui từ quán C về và rót cho

mọi người sử dụng, soi đèn pin cho T xào ma túy. Châu Nhuận P3 mua 06 lon nước ngọt để pha ma túy nước vui và đem ma túy Ketamine từ cổng nhà lên phòng ngủ của P; N2 rót ma túy nước vui cho T, N1, P sử dụng và thống nhất cùng N, T, N1, P3 về việc chung tiền trả tiền mua ma túy Ketamine, để tổ chức cho N, P, T, N1, P3, N2 và Nguyễn Thị Thu V cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Đến 17 giờ cùng ngày thì bị Đội CSĐTTP về ma tuý Công an quận H phối hợp với Công an phường H phát hiện, bắt quả tang.

Với hành vi như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 25/7/2024, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Lê Hồng PTrương Quỳnh T cùng các đồng phạm khác về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; riêng bị cáo Châu Nhuận P3 còn bị xét xử theo tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét đơn kháng xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo P, và T; HĐXX thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo cùng các đồng phạm thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù, không những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội của địa phương; các bị cáo đều đã trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của mình các bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện, nên đối với các bị cáo cần phải xử phạt nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của từng bị cáo, để cải tạo giáo dục các bị cáo và để răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

- Đối với bị cáo Lê Hồng P: Là người giữ vai trò tích cực trong vụ án, đồng ý với đề xuất mua ma túy về sử dụng của bị cáo N và bị cáo T, N1; sử dụng nhà riêng của gia đình P làm địa điểm tổ chức sử dụng ma túy; cung cấp các dụng cụ như đĩa, ống hút, thẻ nhựa, ly thủy tinh, loa, đèn để phục vụ cho việc sử dụng trái phép chất ma túy của cả nhóm; vai trò và tính chất phạm tội của bị cáo P chỉ sau bị cáo N và bị cáo P3. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo mức án 07 năm tù là nhẹ, đã có chiếu cố đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hoàn cảnh gia đình của bị cáo; bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết gì mới; nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

- Đối với bị cáo Trương Quỳnh T: Mặc dù là phụ nữ, nhưng năm 2019 đã từng bị xử lý hành chính về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy” trong vụ án bị cáo là người đồng ý với đề xuất của các bị cáo N, P và N1 mua ma túy nước vui mang về nhà bị cáo P để sử dụng; T và N1 cùng thống nhất với nhau nói N mua thêm

Ketamine về cho cả nhóm cùng sử dụng, đồng ý thỏa thuận sau khi sử dụng ma túy Ketamine xong sẽ góp tiền để trả tiền mua ma túy ketamine cho N; T cũng là người rót ma túy nước vui, xào ma túy Ketamine cho các bị cáo khác sử dụng. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm có vai trò không đáng kể, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xét đến nhân thân, điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, áp dụng khoản 2 Điều 54 BLHS, xử phạt 06 năm tù là mức án dưới khung là nhẹ và đã có chiếu cố nhiều cho bị cáo; bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết gì mới; nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

- Đây là vụ án đồng phạm, khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng Điều 58 BLHS là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Do không được chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Hồng PTrương Quỳnh T; giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm đối với các bị cáo.

- Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt: Lê Hồng P (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25 tháng 12 năm 2023.

- Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 và khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt: Trương Quỳnh T 06 (sáu) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25 tháng 12 năm 2023.

II. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Hồng PTrương Quỳnh T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

III. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HSST ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - Phòng HSNV – CA Tp Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - CQCSĐT Công an quận Hải Châu;
  • - Toà án nhân dân quận hải Châu;
  • - Vụ GĐKT I – TAND tối cao;
  • - Nhà tạm giữ CA quận Hải Châu;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Trần Minh Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2024/ HS-PT ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 199/2024/ HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ ngày 25/12/2023, tại quán Bar C số B đường Đ, thành phố Đà Nẵng, Cao Trọng N, Lê Hồng P, Trương Quỳnh T, Phạm Thị Cẩm N1 bàn bạc, thống nhất đến nhà của P tại địa chỉ số C đường N, phường H, quận H, TP Đà Nẵng để cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó: N chuẩn bị ma tuý loại nước vui (gồm các thành phần ma túy: Methamphetamine, K, MDMA, Nimetazepam) và ma túy loại Ketamine, rủ Trịnh Thị Yến N2, Châu Nhuận P3 và rót ma túy cho N2 sử dụng; P chuẩn bị địa điểm và cung cấp các dụng cụ loa, đèn, đĩa sứ, ống hút, thẻ nhựa, ly thủy tinh; T, N1 khởi xướng việc mua ma túy Ketamine, T xào ma túy Ketamine, rót ma túy nước vui; N1 mang ma túy nước vui từ quán C về và rót cho mọi người sử dụng, soi đèn pin cho T xào ma túy. Châu Nhuận P3 mua 06 lon nước ngọt để pha ma túy nước vui và đem ma túy Ketamine từ cổng nhà lên phòng ngủ của P; N2 rót ma túy nước vui cho T, N1, P sử dụng và thống nhất cùng N, T, N1, P3 về việc chung tiền trả tiền mua ma túy Ketamine, để tổ chức cho N, P, T, N1, P3, N2 và Nguyễn Thị Thu V cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Đến 17 giờ cùng ngày thì bị Đội CSĐTTP về ma tuý Công an quận H phối hợp với Công an phường H phát hiện, bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger