Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 199/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-6-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi;

Ông Nguyễn Thái Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Bà Nguyễn Thị

Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 2126/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 161/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 219/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1981;

Địa chỉ: 2 (số cũ C), tổ B, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt; ông D vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản khai và theo biên bản hòa giải tại Tòa án, nguyên đơn – Bà Lê Thị H, trình bày:

Bà và ông D tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 23/02/2007, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn hòa hợp, yêu thương nhau. Nay bà xác định tình cảm không còn, hôn nhân không đạt được mục đích nên xin ly hôn với ông Nguyễn Tiến D.

Về con chung: Bà và ông D có 03 con chung là Nguyễn Lê Tiến A, sinh ngày 30/8/2007; Nguyễn Lê Hương G, sinh ngày 02/02/2009 và Nguyễn Lê Tiến N, sinh ngày 18/10/2015.

Theo đơn khởi kiện, khi ly hôn, bà đề nghị giao cả ba cháu cho ông D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời, bà không cấp dưỡng nuôi con chung.

Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 20/6/2024, bà đã thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả ba cháu. Tạm thời, không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – Ông Nguyễn Tiến D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc và tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày tại Tòa án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những tham gia tố tụng: Thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị H; về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Tiến A, sinh ngày 30/8/2007; Nguyễn Lê Hương G, sinh ngày 02/02/2009 và Nguyễn Lê Tiến N, sinh ngày 18/10/2015 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; tạm thời, ông D không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, ông D có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở; về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị H xin ly hôn ông Nguyễn Tiến D. Theo biên bản xác minh ngày 12/3/2024 thể hiện, ông Nguyễn Tiến D hiện đang sinh sống tại địa chỉ 259/54/106 (số cũ C), tổ B, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng cho bà H, ông D. Tuy nhiên, bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Tiến D tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 23/02/2007, trên cơ sở hôn nhân tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo các Điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà H là có cơ sở chấp nhận vì:

Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Thực tế, theo như bà H trình bày, quá trình chung sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm và tính cách, không còn tôn trọng lẫn nhau. Bà H nhận thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin được ly hôn với ông D.

Tòa án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông D. Theo biên bản xác minh mâu thuẫn ngày 01/3/2024 thể hiện, địa phương cho biết bà H, ông D có xảy ra mâu thuẫn nhưng nguyên nhân do đâu thì địa phương không rõ. Hiện nay, bà H và ông D không còn sống chung với nhau.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông D theo quy định nhưng ông D không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, điều đó cho thấy ông D đã bỏ mặc hôn nhân của mình không muốn hàn gắn lại với bà H.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông D đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng. Ông D cũng không tích cực trong việc hàn gắn, níu kéo mối quan hệ vợ chồng với bà H, thể hiện ở sự bỏ mặc, không đến Tòa án để làm việc, hòa giải, xét xử khi bà H nộp đơn khởi kiện xin ly hôn.

Do đó, Tòa án căn cứ vào các điều 51, 54, 56, 57, 58 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà Lê Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Tiến D.

[3.2] Về con chung: Bà H khai trong quá trình chung sống, bà và ông D có 03 con chung là Nguyễn Lê Tiến A, sinh ngày 30/8/2007; Nguyễn Lê Hương G, sinh ngày 02/02/2009 và Nguyễn Lê Tiến N, sinh ngày 18/10/2015. Ly hôn, bà H đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả ba cháu. Tạm thời, không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, bà H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba cháu và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung. Về phía ông Nguyễn Tiến D, ông D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến về vấn đề con chung. Do đó, để đảm bảo sự ổn định và phát triển tốt nhất cho trẻ, Tòa án giao 03 con chung là Nguyễn Lê Tiến A, sinh ngày 30/8/2007; Nguyễn Lê Hương G, sinh ngày 02/02/2009 và Nguyễn Lê Tiến N, sinh ngày 18/10/2015 cho bà Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành, có khả năng lao động. Tạm thời, ông Nguyễn Tiến D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông D được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của các con, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[3.3] Về tài sản chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét; ông D không đến Tòa án làm việc, không có lời trình bày tại Tòa án nên không đặt ra xem xét.

[3.4] Về nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét; ông D không đến Tòa án làm việc, không có lời trình bày tại Tòa án nên không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Bà Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 205; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 238 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng các điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Áp dụng các điều 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Tiến D.
  2. Về con chung: Giao 03 con chung là Nguyễn Lê Tiến A, sinh ngày 30/8/2007; Nguyễn Lê Hương G, sinh ngày 02/02/2009 và Nguyễn Lê Tiến N, sinh ngày 18/10/2015 cho bà Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm thời, ông Nguyễn Tiến D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông D được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của các con, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
  2. Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  3. Về án phí: Bà Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định. Trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu số 0008922 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Tiến D được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận

  • - Toà án tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu VP – HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hồng Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 199/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H + Nguyễn Tiến D - Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger