Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 199/2024/HSST

Ngày: 23-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Cẩm Hằng.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Đỗ Minh Tùng;
    • Ông Lê Thành Tâm.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Triều M – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 196/2024/TLST - HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Quang V, sinh năm 1978 tại tỉnh Bình Dương; thường trú và chỗ ở tại: Số nhà B, tổ D, ấp A, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; cha tên Nguyễn Ngọc C (đã chết), mẹ tên Lê Thị L, sinh năm 1948; có vợ tên Huỳnh Thị T, sinh năm 1978 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 05/12/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương xử phạt số tiền 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, đối với hành vi thực hiện ngày 25/4/2013, theo Bản án số 249/2013/HSST; bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, đóng phạt ngày 17/4/2014. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
  2. Nguyễn Văn D, sinh năm 1986 tại tỉnh Đồng Tháp; thường trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú tại: Ấp A, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 00/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; cha tên Nguyễn Hữu P, sinh năm 1958; mẹ tên Phùng Thị B, sinh năm 1963; có vợ tên Lê Thị Ngọc T1, sinh năm 1984 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
  3. Dương Văn Đ, sinh năm 1981 tại tỉnh Kiên Giang; thường trú tại: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nơi tạm trú: Ấp A, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; cha tên Dương Văn T2, sinh năm 1957; mẹ tên Nguyễn Thị P1, sinh năm 1962; có vợ tên Đặng Thị H, sinh năm 1986 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
  4. Huỳnh Văn S, sinh năm 1982 tại tỉnh Đồng Tháp; thường trú tại: Áp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nơi tạm trú: Ấp A, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 00/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; cha tên Huỳnh Văn B1 (đã chết); mẹ tên Nguyễn Thị N (đã chết); vợ tên Nguyễn Thị Cẩm T3 (đã chết); có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quang V, Huỳnh Văn S, Nguyễn Văn DDương Văn Đ có mối quan hệ quen biết nhau, do S, D, Đ ở trọ tại nhà T cạnh đường PA003 thuộc ấp A, xã P, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương do V làm chủ.

Trưa ngày 14/01/2024, Đ, S, VD tổ chức uống rượu tại bàn ghế đặt phía trước nhà T. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, D sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51 bên trong có cài đặt ứng dụng trò chơi điện tử tên “Bầu Cua Tết” và rủ Đ, S, V chơi lắc bầu cua thắng thua bằng tiền thì cả ba người đồng ý. DĐ thỏa thuận hùn tiền làm cái, D là người cầm điện thoại để lắc bầu cua, còn Đ chung chi tiền. Suôl và V tham gia đặt tiền mỗi ván từ 20.000 đồng đến 200.000 đồng. Trong quá trình chơi, có 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) đến tham gia đặt tiền nhưng sau đó người này bỏ đi về trước. Khoảng 14 giờ cùng ngày, D, Đ, SV đang chơi lắc bầu cua thì bị lực lượng Công an xã P, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương phát hiện quả tang, thu giữ vật chứng gồm:

  • - Tiền trên chiếu bạc là 5.690.000 đồng;
  • - 01 điện thoại di động hiệu S1 M51, màu đen của Nguyễn Văn D;
  • - Tiền trên người Nguyễn Văn D là 1.450.000 đồng.

Cách thức đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua và quy định thắng thua như sau: Ứng dụng trò chơi điện tử “Bầu Cua Tết” có 06 hình trái bầu, con cua, con tôm, con cá, con gà, con nai. Người làm cái đặt điện thoại di động có ứng dụng trò chơi lên bàn, rồi từng người chơi đặt tiền cược lên bàn và thông báo bằng miệng là chọn 01 trong 06 hình nêu trên. Sau đó, người làm cái nhấn bắt đầu ứng dụng trên màn hình điện thoại thì sẽ cho ra kết quả 01 trong 06 hình ảnh nêu trên. Nếu hình trên màn hình điện thoại trùng khớp với hình người chơi đã chọn thì người chơi thắng số tiền mình đặt cược. Ngược lại, nếu hình trên màn hình điện thoại không trùng khớp với hình người chơi lựa chọn thì người làm cái thắng số tiền người chơi đặt cược.

Tại Cơ quan điều tra C (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương:

  • - Bị cáo Nguyễn Quang V khai nhận: Bị cáo đem theo 250.000 đồng và số tiền này bị cáo dùng để tham gia đánh bạc. Đến khi bị lực lượng Công an phát hiện, bị cáo thua 60.000 đồng, số tiền 190.000 đồng còn lại, bị cáo bị thu giữ trên chiếu bạc.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận: Bị cáo đem theo 1.700.000 đồng, chỉ lấy ra 250.000 đồng hùn với Dương Văn Đ mỗi người 250.000 đồng để tham gia đánh bạc, làm cái. Đến khi bị lực lượng Công an phát hiện, DĐ thắng 4.150.000 đồng. Bị cáo D và bị cáo Đ bị thu giữ tiền trên chiếu bạc là 4.650.000 đồng. Ngoài ra, D bị thu giữ số tiền trên người là 1.450.000 đồng, số tiền này bị cáo không sử dụng để đánh bạc.
  • - Bị cáo Dương Văn Đ khai nhận: Bị cáo Đ đem theo 250.000 đồng hùn với Nguyễn Văn D làm cái đánh bạc. Đến khi bị lực lượng Công an phát hiện, DĐ thắng 4.150.000 đồng, bị thu giữ 4.650.000 đồng trên chiếu bạc.
  • - Bị cáo Huỳnh Văn S khai nhận: Bị cáo đem theo 250.000 đồng để tham gia đánh bạc. Đến khi bị lực lượng Công an phát hiện, Suôl thắng 600.000 đồng, bị cáo bị thu giữ số tiền 850.000 đồng trên chiếu bạc.

Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số 200/CT – VKS ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Văn D, Dương Văn Đ, Huỳnh Văn S về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa;

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Văn D, Dương Văn Đ, Huỳnh Văn S đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V từ 10 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Căn cứ các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Xử phạt bị cáo Dương Văn Đ từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 5.690.000 đồng thu trên chiếu bạc do các bị cáo sử dụng để đánh bạc; 01 điện thoại di động hiệu S1 M51, màu đen của bị cáo Nguyễn Văn D.
  • - Trả cho bị cáo Nguyễn Văn D số tiền 1.450.000 đồng, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Các bị cáo thống nhất hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố; thống nhất về tội danh, mức hình phạt được thể hiện tại Bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
  • Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt các bị cáo mức án nhẹ để các bị cáo có cơ hội trở lại xã hội, lao động và thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện:

Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Văn D, Dương Văn Đ, Huỳnh Văn S khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 14/01/2024, tại phía trước nhà T cạnh đường PA003 thuộc ấp A, xã P, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương, Nguyễn Quang V, Nguyễn Văn D, Dương Văn Đ, Huỳnh Văn S có hành vi cùng nhau tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua trên Ứng dụng trò chơi điện tử “Bầu Cua Tết”, với tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 5.690.000 đồng; trong đó: Số tiền bị cáo V tham gia đánh bạc là 190.000 đồng, bị cáo D và bị cáo Đ là 4.650.000 đồng, bị cáo S là 850.000 đồng. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung Biên bản vụ việc ngày 14/01/2024, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Văn D, Dương Văn Đ, Huỳnh Văn S đã phạm tội: “Đánh bạc” tội được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đúng với Cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Về tính chất, vai trò, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính chất: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là tiền đề có thể gây phát sinh những tội phạm khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo biết rõ việc đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là hành vi phạm tội, bị pháp luật ngăn cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.

Về vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, các bị cáo là đồng phạm mang tính giản đơn, cùng cố ý thực hiện hành vi đánh bạc; trong đó: Bị cáo D sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51 của bị cáo, bên trong có cài đặt ứng dụng trò chơi điện tử tên “Bầu Cua Tết” và rủ các bị cáo Đ, S, V chơi lắc bầu cua thắng thua bằng tiền và số tiền dùng để đánh bạc là 2.325.000 đồng (1/2 của số tiền 4.650.000 đồng D1, Đ hùn vốn và đánh bạc thắng), bị cáo Đ là 2.325.000 đồng (1/2 của số tiền 4.650.000 đồng D1, Đ hùn vốn và đánh bạc thắng), bị cáo S là 850.000 đồng, bị cáo V là 190.000 đồng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trong đó các bị cáo D, Đ, S phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Riêng bị cáo V có mẹ là bà Lê Thị L được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì theo Quyết định số 667KT/HĐNN ngày 19/7/1991 và là thương binh hạng 5/8 theo Giấy chứng nhận cấp ngày 02/10/1982, bị cáo có cha là ông Nguyễn Ngọc C được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì theo Quyết định số 667KT/HĐNN ngày 19/7/1991. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Văn D, Dương Văn Đ, Huỳnh Văn S phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử xét thấy đủ điều kiện áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự để xem xét xử hình phạt tiền cho các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung và đồng thời cũng không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Đối với bị cáo V, mặc dù trước đây bị cáo từng phạm tội, nhưng đã được xóa án tích, lần phạm tội này có tính chất, mức độ thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có khung hình phạt không quá 03 năm; bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; có nơi cư trú rõ ràng, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điểu 321 Bộ luật Hình sự, cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - Số tiền 5.690.000 đồng thu trên chiếu bạc do các bị cáo sử dụng để đánh bạc và 01 điện thoại di động hiệu S1 M51, màu đen của bị cáo Nguyễn Văn D sử dụng ứng dụng “Bầu Cua Tết” để đánh bạc, là vật chứng trong vụ án nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với số tiền 1.450.000 đồng thu trên người của bị cáo D, số tiền này bị cáo không dùng để đánh bạc nên trả lại cho bị cáo D, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Xét hình phạt Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, nên chấp nhận. Tuy nhiên, về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo V và bị cáo D là thấp so với tính chất, mức độ hành vi các bị cáo phạm tội, nên Hội đồng xét xử xem xét xử mức hình phạt cao hơn mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 321; Điều 35; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Nguyễn Văn D, Dương Văn Đ, Huỳnh Văn S;
  • - Khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Quang V;
  • - Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Điều 106; điểm d khoản 1 Điều 125, các Điều 136, 299, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Văn D, Dương Văn Đ, Huỳnh Văn S phạm tội: “Đánh bạc”.

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Quang V số tiền: 10.000.000 (mười triệu) đồng.
  • Giao bị cáo Nguyễn Quang V cho Ủy ban nhân dân xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Quang V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
  • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D: 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng.
  • - Xử phạt bị cáo Dương Văn Đ: 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
  • - Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S: 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
  • - Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 18/L-TABC, 19/L-TABC, 20/L-TABC, 21/L-TABC cùng ngày 26/7/2024 đối với các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Văn D, Dương Văn Đ, Huỳnh Văn S.

2. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu vào Ngân sách Nhà nước: Số tiền 5.690.000 (năm triệu, sáu trăm chín mươi nghìn) đồng; 01 điện thoại di động hiệu S1 M51, màu đen (máy bị trầy xướt, không kiểm tra được model, số IMEL, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) của bị cáo Nguyễn Văn D.
  • - Trả cho bị cáo Nguyễn Văn D số tiền 1.450.000 (một triệu bốn trăm năm mươi nghìn), nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng đã được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát theo Biên bản giao nhận ngày 26/7/2024; khoản tiền đã nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương số tài khoản: 5503203000013 theo Lệnh thanh toán ngày 26/7/2024).

3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Văn D, Dương Văn Đ, Huỳnh Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - CQĐT Công an thành phố Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Cẩm Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2024/HSST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về đánh bạc

  • Số bản án: 199/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger