Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 199/2024/HS-ST

Ngày 23-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hậu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Mão

Bà Nguyễn Thị Tư

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 195/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 464/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn L, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1989 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn V, Thanh C, T, Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q (đã chết) và bà Trịnh Thị C1; có vợ là Phạm Thị Hồng Đ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 103/QĐ-TA ngày 12/4/2017, Công an huyện T, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; Quyết định số 16/QĐ-TA ngày 04/6/2018, Tòa án huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng, ngày 27/02/2020 L đã chấp hành xong (đều đã được xóa); bị bắt tạm giữ ngày 12/4/2024, đến ngày 17/4/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

2. Lê Văn H, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1993 tại Hải Dương; nơi cư trú: Nơi thường trú: Thôn P, T, T, Hải Dương; nơi sinh sống: Số D Đà Nẵng, Đ, H, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1 và bà Phạm Thị T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án sơ thẩm số 07/2019/HS-ST ngày 08/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương và bản án phúc thẩm số 70/2019/HS-PT ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên bản án sơ thẩm xử phạt H 09 tháng tù về tội Đánh bạc. H chấp hành xong hình phạt tù vào năm 2020 và thi hành xong án phí vào năm 2019 (đã được xóa án tích); bị bắt giữ ngày 12/4/2024, đến ngày 17/4/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quan hệ quen biết nên khoảng 13 giờ 00 phút ngày 12/4/2024, Lê Văn L đã liên lạc với Lê Văn H hỏi chỗ mua ma túy Heroine. H trả lời có biết. Sau đó, L điều khiển xe mô tô Honda Winner X BKS 34B4-947.52 đến chỗ Hsố D Đà Nẵng, Đ, H, Hải Phòng. Tại đây, L đưa cho H 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và rủ đi mua ma túy về cùng sử dụng. H đồng ý, cầm tiền cất vào trong người. Sau đó, L điều khiển xe chở H đi đến khu vực đường T, Hải Phòng, gặp 01 người đàn ông không quen biết hỏi mua ma túy Heroine. Người đàn ông này đồng ý và bảo đi theo đến ngõ S L, N, Hải Phòng. Đến nơi, L đứng đợi còn H xuống xe, lấy 200.000 đồng (L đưa trước đó) đưa người đàn ông. Người này nhận tiền và bảo ma túy để ở lỗ gạch trên tường trong ngõ rồi điều khiển xe đi. H đến gần và lấy từ trong lỗ gạch trên tường 01 gói nilon bên trong chứa chất bột màu trắng, cầm ở lòng bàn tay phải rồi ngồi lên xe. L điều khiển xe chở H đến đầu ngõ S L thì bị Công an quận N kiểm tra. Do hoảng sợ nên H đã cho gói ma túy vào trong miệng, chưa kịp nuốt thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang vào khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, thu giữ: 01 gói nilon kích thước khoảng 02x02cm bên trong chứa chất bột màu trắng ở miệng của H và 01 xe mô tô Honda Winner X BKS 34B4-947.52 của L.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu của L cho kết quả dương tính với test thử chất ma túy Morphine, Heroine; của H âm tính test thử chất ma túy.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của LH không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,14 gam, loại: Heroine”.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý 01 phong bì niêm phong số 451MT/PC09 bên trong gồm 0,06 gam chất bột Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.

- Xe mô tô Honda Winner X BKS 34B4-947.52, kết quả xác minh có số khung và số máy là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự (bút lục 119), chủ xe là Lê Trung K (sinh năm 2001; trú tại Thôn V, T, T, Hải Dương). Anh K mua và đăng kí xe vào năm 2021. Ngày 12/4/2024, anh K cho L (là cậu ruột của K) mượn đi công việc, không biết về việc L dùng xe đi mua ma túy. Xác định anh K là chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại tài sản cho anh K.

Tại Bản Cáo trạng số 197/CT-VKSNQ ngày 31/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Lê Văn LLê Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.

Kiểm sát viên tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Áp dụng thêm điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L, xử phạt:

Bị cáo Lê Văn L mức án từ 15 đến 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo Lê Văn H mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không đề nghị hình phạt bổ sung là hình phạt tiền do các bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định; về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 451MT/PC09 bên trong gồm 0,06 gam chất bột Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo L là con liệt sĩ nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sở thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận N, Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo:

[2] Lời khai của các bị cáo Lê Văn L, Lê Văn H tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định số số 451/KL-KTHS ngày 17/4/2024 và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, khẳng định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/4/2024, tại khu vực đầu ngõ S L, N, Hải Phòng, các bị cáo Lê Văn LLê Văn H cùng thống nhất ý chí thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,14 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân.

[3] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Văn L, Lê Văn H đồng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17 Bộ luật Hình sự.

[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo L có bố đẻ là liệt sĩ nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về vai trò phạm tội:

[6] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng thống nhất ý chí đi mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Trong đó bị cáo L có vai trò tích cực hơn, cụ thể: L là người khởi xướng rủ H đi mua ma tuý, đi xe máy đến trở H đi mua ma tuý, đưa cho H 200.000 đồng để mua ma tuý, trực tiếp giao dịch với người bán ma tuý. Bị cáo H tiếp nhận ý chí của L, cùng thống nhất việc đi ma ma tuý về sử dụng, H trực tiếp nhận ma tuý và trả 200.000 đồng, khi bắt quả tang H là người cầm ma tuý trên tay. Vì vậy đánh giá vai trò phạm tội của bị cáo L là cao hơn bị cáo H trong đồng phạm.

- Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và quyết định hình phạt đối với các bị cáo:

[7] Hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Về nhân thân bị cáo L có 02 tiền sự liên quan đến hành vi sử dụng ma tuý; bị cáo H có 01 tiền án năm 2019 về tội Đánh bạc; mặc dù tiền án, tiền sự của các bị cáo đều đã được xoá nhưng cần đánh giá các bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc buộc các bị cáo phải cải tạo tại cơ sở giam giữ mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo theo quy định tại Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt do bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đối với bị cáo L có vai trò phạm tội cao hơn bị cáo H nhưng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo H (bị cáo L có bố đẻ là liệt sĩ) nên căn cứ Điều 58 Bộ luật Hình sự Hội đồng xét xử ấn định mức hình phạt của hai bị cáo là ngang nhau.

- Về hình phạt bổ sung:

[8] Các bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

[9] Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 451MT/PC09 bên trong gồm 0,06 gam chất bột Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định do đây là vật cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng.

[10] Đối với người bán ma túy cho bị cáo chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ, nên chưa có cơ sở xử lý.

[11] Về án phí: Bị cáo L là con liệt sĩ nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sở thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L:

Tuyên bố các bị cáo Lê Văn L, Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy

Xử phạt:

Bị cáo Lê Văn L 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/4/2024.

Bị cáo Lê Văn H 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/4/2024.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 451MT/PC09 bên trong gồm 0,06 gam chất bột Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định (Theo Biên bản giao nhận vật chứng và tài sản ngày 01/8/2024).

- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn Long L được miễn án phí hình sự sở thẩm; bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lê Văn Long L, Lê Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hậu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 199/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Long Hoang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger