|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 199/2024/HS-ST Ngày: 23/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quốc Đấu
2. Ông Nguyễn Đình Cát
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Bằng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại các điểm cầu: Điểm cầu trung tâm hội trường xét xử trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; điểm cầu thành phần phòng xử tại trại tạm giam Công an tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 190/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Văn V (tên gọi khác không); sinh năm: 1975, tại H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: khối A, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn T (đã chết); con bà: Lê Thị T1, sinh năm 1948; Vợ: Phan Thị S; sinh năm: 1984 (đã ly hôn) con: có 02 con, lớn sinh năm 2012 nhỏ sinh năm 2019. Tiền án: Ngày 29/9/2021 tại Bản án số 299/2021/HS-ST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 05/11/2022. Tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 26/6/1995 Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 25/01/1997, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp tài sản công dân”; Năm 2004 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/2011; Năm 2012, Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/12/2013; Ngày 23/9/20217, Công an thành phố V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 07/5/2024 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phan Thị S; sinh năm: 1984; Trú tại: khối A, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 13 giờ 05 phút ngày 07/5/2024, Phan Văn V điều khiển xe mô tô biển số 37B2-299.48 đến khu vực bến xe cũ thuộc phường L, thành phố V tìm mua ma túy. Tại đây V gặp một người đàn ông không quen biết, V hỏi mua người này 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, người này đồng ý bán. Sau khi nhận tiền, người đàn ông đó đưa cho V 01 gói ma túy được gói bên ngoài bằng bìa các tông màu nâu bên trong có chất cục bột màu trắng. Sau khi mua được ma túy, V bỏ gói ma túy trong túi áo sơ mi trước ngực và tìm nơi sử dụng. Khi V đi đến đường N thuộc xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an thành phố V yêu cầu khiểm tra, quá trình kiểm tra thu giữ trong túi áo ngực V 01 gói nghi là ma túy. Người cùng tang vật được đưa về trụ sở Công an thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Vật chứng vụ án: 01 gói được gói bên ngoài bằng bìa các tông màu nâu bên trong có chất cục bột màu trắng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lấy 0,060 gam gửi giám định, số vật chứng còn lại được niêm phong theo đúng quy định; 01 xe mô tô Biển số 37B2-299.48 là của chị Phan Thị S, Cơ quan điều tra Công an thành phố V đã trả lại xe cho chị S.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 05/7/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V và Kết luận giám định số: 503/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 12/5/2024 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất cục bột màu trắng thu giữ của Phan Văn V là ma túy loại Heroinne có khối lượng có 0,160 gam.
Tại Bản cáo trạng số: 20 8/CTP V 01/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố Phan Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt Phan Văn V từ 24 đến 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại thu giữ của Phan Văn V
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp và quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét hành vi phạm tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 13 giờ 15 phút, ngày 07/5/2024, tại khu vực đường N, xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Phan Văn V có hành vi tàng trữ trái phép 0,160 gam ma túy (Heroine) mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của Phan Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[2.2]. Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi đó gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn tại địa phương là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy mang lại cho bản thân, xã hội và đã bị Tòa án xét xử và bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội thể hiện nhân thân xấu và ý thức chấp hành pháp luật kém. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án như Đại diện viện kiểm sát đề nghị Tại phiên tòa là phù hợp thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật
[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có công ăn việc làm thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4]. Về vật chứng: Đối với 0,160 gam ma túy (Heroine) thu giữ của Phan Văn V đã lấy 0,060 gam gửi giám định, phần còn lại và vỏ giấy niêm phòng được bỏ vào một phong bì thư bưu điện dán kín và niêm phong lại theo đúng quy định pháp luật là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô Biển số 37B2-299.48 là của chị Phan Thị S, quá trình bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội chị S không biết, cơ quan điều tra đã lại xe cho chị S là phù hợp quy định pháp luật.
[2.5]. Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Nên không có cơ sở để xử lý.
[2.6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Phan Văn V 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ một gói bọc bằng bìa các tông màu nâu bên trong có chứa 0,100 gam heroine, được niêm phong lại bằng một bì thư bưu điện thu giữ của Phan Văn V1. Vật chứng hiện có tại, Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK 2024/238 ngày 17 tháng 7 năm 2024.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp và quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phan Văn V phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Thúy |
Bản án số 199/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 199/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
