Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 199/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23- 07 -2024

V/v Tranh chấp Chia tài sản chung sau

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Kim Tuyến

Ông Hoàng Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:

Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 327/2023/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐ-ST ngày 16/05/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 196/TB-TA ngày 13/06/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 103 ngày 28/6/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị N, sinh năm 1992 (Vắng mặt)

HKTT: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang lao động tại M.

Người đại diện theo ủy quyền của chị N: Bà Nguyễn Như Q, sinh năm 1998. Người đại diện theo ủy quyền của chị Q: ông Lương Việt C, sinh năm 1996. Cùng địa chỉ: Số C, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh ngày 1988 (Có mặt)

HKTT: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện tham gia tố tụng: Anh Đào Quang D - Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trương Thị N trình bày:

Năm 2014, chị và anh Nguyễn Văn K kết hôn. Do cuộc sống hôn nhân không hòa hợp nên năm 2022 chị và anh K đã ly hôn bằng Bản án số 06/2023/HNGĐ-ST ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nhưng chưa yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

Trong thời gian chung sống từ năm 2014 đến năm 2023 chị và anh K tạo lập được khối tài sản chung là Thửa đất số 78, tờ bản đồ số 91, diện tích 353,8m², tại địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 096038 do Chủ tịch UBND huyện L cấp giấy chứng nhận ngày 24/12/2002 cho hộ bà Nguyễn Thị T, chuyển nhượng cho anh Nguyễn Văn K và chị Trương Thị N và được Chi nhánh văn phòng đăng kí đất đai huyện L xác nhận ngày 31/10/2019. Trên đất có 01 căn nhà cấp 4 diện tích khoảng 120m². Đến nay, chị yêu cầu Tòa án phân chia khối tài sản chung giữa chị và anh K làm 2 phần, chị đề nghị được nhận ½ giá trị khối tài sản chung bằng tiền.

* Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Nguyễn Văn K trình bày:

Anh và chị Trương Thị N đã ly hôn nhau ngày 16/01/2023 tại Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nhưng không yêu cầu giải quyết về tài sản.

Anh xác định anh và chị N có tài sản chung là thửa đất số 78, tờ bản đồ số 91, diện tích 353,8m² đất tại thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang và tài sản gắn liền trên đất gồm: 01 nhà đổ mái và công trình phụ, nhà vệ sinh. Nguồn gốc thửa đất là do anh và chị N góp tiền và nhờ bố mẹ anh là ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị H mua hộ. Số tiền mua đất là 300.000.000 đồng. Nguồn gốc tài sản trên đất là do năm 2020 anh về nước và đứng ra xây dựng, chị N có gửi tiền về cho anh để xây nhà. Khi xây dựng xong anh vẫn còn nợ tiền công thợ và tiền vay anh em bạn bè để làm nhà là 200.000.000 đồng nhưng không có giấy tờ gì. Anh đề nghị chị N phải có trách nhiệm với khoản nợ này.

Đối với yêu cầu khởi kiện của chị N thì anh có quan điểm như sau: anh đang ở với con trai trên thửa đất này nên đề nghị Tòa án xem xét chia cho anh phần đất có nhà, hiện nay anh không có mảnh đất nào khác. Anh đồng ý chia đất cho chị N và không có khả năng chi trả giá trị tài sản chênh lệch cho chị N bằng tiền.

Tại Biên bản xác minh ngày 21/12/2023, ông Vũ Văn T1 - Cán bộ địa chính xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang cung cấp: Năm 2019, tại địa phương có dự án đo đạc, cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dự án đo đạc bản đồ địa chính năm 2019. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W098038 thửa số 78, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì diện tích anh K, chị N được cấp giấy chứng nhận là 353,8m². Năm 2019, sau khi đo đạc lại thì anh K, chị N được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới số phát hành DB505837, thửa đất hiện nay thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 91, diện tích 376,5m² (trong đó diện tích đất ở nông thôn là 353,8m², đất trồng cây lâu năm là 22,7m²). Việc tăng giảm diện tích đất nêu trên là do đo đạc. Diện tích của anh K, chị N sử dụng ổn định từ trước đến nay, không tranh chấp với ai.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện L do ông Đào Quang D là đại diện theo uỷ quyền vắng mặt và có văn bản trình bày ý kiến như sau:

  • - Diện tích thực tế của anh Nguyễn Văn K và chị Trương Thị Ngọc g 13m² so với diện tích trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do gia đình sau khi xây nhà đã xây lại tường rào vành lao, phần đường bê tông giáp phía Bắc thửa đất đã mở rộng thêm, nên cạnh giáp đường đã thay đổi so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.
  • - Việc tăng, giảm diện tích thửa đất số 209, tờ bản đồ số 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W098038 do UBND huyện L cấp ngày 24/12/2002 so với diện tích thửa đất số 78, tờ bản đồ số 91 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB505837 do UBND huyện L cấp ngày 18/12/2020 cho ông Nguyễn Văn K và bà Trương Thị N là do sai số đo đạc giữa 02 lần đo. Diện tích cấp năm 2020 được cấp đổi theo diện tích của bản đồ địa chính đã được đo đạc lại.
  • - Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số sê ri DB505837 do UBND huyện L cấp ngày 18/12/2020 cho ông Nguyễn Văn K và bà Trương Thị N, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 91 đảm bảo đúng, đủ theo quy định của pháp luật.

Tại công văn số 31670/QLXNC-P3 ngày 24/11/2023 của Cục X, Bộ C1 cung cấp: Chị Trương Thị N, sinh ngày 26/10/1992 đã xuất nhập cảnh 08 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 03/4/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

Ngày 18/12/2023 và ngày 21/12/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang tiến hành thẩm định, định giá thửa đất số 78, tờ bản đồ số 91, địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Kết quả như sau:

Đất ở vị trí khu vực 2, vị trí 3 có giá 1.050.000đ/m²

Đất trồng cây lâu năm có giá 50.000đ/m²

Trên đất có các tài sản gồm:

  • - 01 nhà cấp 3, loại 3 có diện tích 125m² xây dựng năm 2021 có trị giá 125m² x 4.650.000₫ = 465.000.000đồng
  • - 01 nhà bếp loại A, nhà vệ sinh diện tích 25,2m² xây dựng năm 2021 có trị giá 25,2m² x 1.340.000đồng x 80% = 27.014.400đồng
  • - 01 sân xi măng diện tích 111,8m² có trị giá: 111,8m² x 120.000đồng x 50% = 6.708.000 đồng
  • - 02 trụ cổng xây cay, mỗi trụ có diện tích 1,152 m³ có trị giá: 1,152 m³ x 2 x 50% x 1300.000đồng = 1.497.000đồng
  • T2 vành lao cổng xây cay, tường 10 diện tích 27,75m² + 21,8m² có trị giá (27,75m² + 21,8m²) x 240.000đ/m² x 50% = 5.940.000đồng
  • - Cánh cổng diện tích 10,2 m² có trị giá 10,2 m² x 1.130.000đồng x 50% = 5.763.000đồng

Tổng trị giá tài sản trên đất là 511.922.400đồng.

Ngoài ra trên đất còn có các cây cau, cây vú sữa nhỏ, cây hoa giấy có giá trị nhỏ, anh K không đề nghị định giá. Trường hợp những cây này thuộc đất của ai thì người đó được hưởng.

* Tại phiên toà:

  • - Người đại diện theo uỷ quyền của chị Trương Thị N là chị Nguyễn Như Q vắng mặt, người đại diện theo uỷ quyền của chị Q là anh Lương Việt C có mặt và trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX phân chia khối tài sản chung giữa chị và anh K làm 2 phần, chị N đề nghị được nhận ½ giá trị khối tài sản chung bằng tiền.
  • - Bị đơn là anh Nguyễn Văn K không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị N, đề nghị Tòa án xem xét chia cho anh phần đất có nhà do anh không có mảnh đất nào khác. Anh đồng ý chia đất cho chị N và không có khả năng chi trả giá trị tài sản chênh lệch cho chị N bằng tiền.
  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến:
  • - Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án đã chấp hành pháp luật và tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 246 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 236/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:
  • + Giao cho anh Nguyễn Văn K được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 230,9m² (trong đó 208,2m² đất ở và 22,7m² đất trồng cây lâu năm) trị giá 219.745.000đồng. Trên đất có 01 nhà cấp 3, loại 3 có diện tích 125m²; 01 nhà bếp loại A, nhà vệ sinh diện tích 25,2m², 01 sân xi măng diện tích 111,8m², 02 trụ cổng xây cay, tường vành lao cổng xây cay; tổng giá trị tài sản trên đất là: 511.922.400đồng. Tổng giá trị tài sản giao cho anh K 731.667.400 đồng.
  • + Giao cho chị N được quản lý, sử dụng phần diện tích đất 132,6m² đất ở trị giá 139.230.000đồng.
  • Buộc anh K phải trích chia chênh lệch tài sản cho chị N là 296.218.700đồng.
  • * Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 6.141.000 đồng, anh K và chị N mỗi người phải chịu 3.070.500 đồng. Do chị N đã nộp và chi phí nên Hội đồng xét xử thấy cần buộc anh K phải trả cho chị N số tiền 3.070.500 đồng.
  • * Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • Anh K, chị N mỗi người được chia giá trị tài sản 435.448.700đồng nên phải chịu án phí chia tài sản là là 21.417.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ tranh chấp: Chị Trương Thị N là công dân Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại nước Malaixia có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết chia tài sản chung sau khi ly hôn đối với anh Nguyễn Văn K. Bị đơn anh Nguyễn Văn K là công dân Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Chia tài sản sau khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; về thẩm quyền: do có đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn chị Trương Thị N vắng mặt nhưng người đại diện theo ủy quyền của chị N là ông Lương Việt C có mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy những người vắng mặt đã có văn bản trình bày ý kiến, việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ khoản 2, Điều 227; khoản 1, Điều 228- Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Trương Thị N và UBND huyện L.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Chị Trương Thị N và anh Nguyễn Văn K kết hôn năm 2014. Do mâu thuẫn nên chị N và anh K đã ly hôn năm 2023 theo Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 06/2023/HNGĐ-ST ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, chị N và anh K chưa giải quyết về tài sản. Quá trình chung sống, chị N và anh K tạo lập được khối tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 91, diện tích 353,8m², tại địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 096038 do Chủ tịch UBND huyện L cấp giấy chứng nhận ngày 24/12/2002 cho hộ bà Nguyễn Thị T, chuyển nhượng cho anh Nguyễn Văn K và bà Trương Thị N và được Chi nhánh văn phòng đăng kí đất đai huyện L xác nhận ngày 31/10/2019.

[3.2] Về nguồn gốc diện tích đất, quá trình sử dụng: Chị Trương Thị N và anh Nguyễn Văn K cùng thừa nhận tạo lập được khối tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 91, diện tích 376,5m², (đo đạc hiện trạng là 363,5m²) tại địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó, xác định đây là tài sản được tạo dựng nên trong thời kỳ hôn nhân và là tài sản chung của chị N và anh K. Nay anh K đang quản lý tài sản chung, chị N đề nghị phân chia tài sản chung của chị và anh K nên cần chấp nhận xem xét theo quy định của pháp luật. Do đó xác định quyền sử dụng đất có diện tích đất đo đạc hiện trạng là 363,5m² (trong đó 340,8m² đất ở; 22,7m² đất trồng cây lâu năm) tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 91 là tài sản chung do đó, xác định đây là tài sản được tạo dựng nên trong thời kỳ hôn nhân và là tài sản chung của chị N và anh K.

Hiện nay anh K là người trực tiếp quản lý tài sản chung của vợ chồng, chị N đang làm việc tại nước ngoài, chị N đề nghị nhận trích chia tài sản bằng tiền, anh K đang ở với con trai trên thửa đất này nên đề nghị Tòa án xem xét chia cho anh phần đất có nhà, hiện nay anh không có mảnh đất nào khác. Anh đồng ý chia đất cho chị N do không có khả năng chi trả giá trị tài sản chênh lệch cho chị N bằng tiền.

Do vậy, xem xét hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng, cần chia tài sản chung của anh K, chị N theo nguyên tắc chia đôi.

Giao cho anh Nguyễn Văn K được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 230,9m² (trong đó 208,2m² đất ở và 22,7m² đất trồng cây lâu năm) trị giá 219.745.000đồng. Trên đất có 01 nhà cấp 3, loại 3 có diện tích 125m²; 01 nhà bếp loại A, nhà vệ sinh diện tích 25,2m², 01 sân xi măng diện tích 111,8m², 02 trụ cổng xây cay, tường vành lao cổng xây cay; tổng giá trị tài sản trên đất là: 511.922.400đồng. Tổng giá trị tài sản giao cho anh K 731.667.400 đồng.

Giao cho chị N được quản lý, sử dụng phần diện tích đất 132,6m² đất ở trị giá 139.230.000đồng.

Buộc anh K phải trích chia chênh lệch tài sản cho chị N là 296.218.700đồng.

* Đối với yêu cầu của anh K xem xét trách nhiệm khi xây dựng xong nhà anh vẫn nợ tiền công thợ và tiền vay bạn bè là 200.000.000đồng nhưng không có giấy tờ. Anh đề nghị chị N có trách nhiệm với khoản nợ này. Tuy nhiên tại phiên tòa anh K không đưa ra được tài liệu chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận.

[5] Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 6.141.000 đồng, anh K và chị N mỗi người phải chịu 3.070.500 đồng. Do chị N đã nộp và chi phí nên Hội đồng xét xử thấy cần buộc anh K phải trả cho chị N số tiền 3.070.500 đồng.

[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Anh K, chị N mỗi người được chia giá trị tài sản 435.448.700đồng nên phải chịu án phí chia tài sản là là 21.417.000đồng.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2, Điều 479 - Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 246 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 236/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị N:

Xác định quyền sử dụng đất thửa đất số 78, tờ bản đồ số 91 tại địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang là tài sản chung chưa chia của anh K, chị N.

* Về chia tài sản chung:

- Giao cho anh Nguyễn Văn K được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 230,9m² (trong đó 208,2m² đất ở và 22,7m² đất trồng cây lâu năm) trị giá 219.745.000đồng. Diện tích đất anh K được giao bao gồm các điểm được đánh số từ 1,2,3,4,5, cụ thể: Từ điểm 1 kéo dài đến điểm 2 là 17,73m, từ điểm 2 kéo dài đến điểm 3 là 0.36m, từ điểm 3 kéo dài đến điểm 4 là 11,87m và từ điểm 4 kéo dài đến điểm 5 là 18,7m (có sơ đồ kèm theo bản án). Trên đất có 01 nhà cấp 3, loại 3 có diện tích 125m²; 01 nhà bếp loại A, nhà vệ sinh diện tích 25,2m², 01 sân xi măng diện tích 111,8m², 02 trụ cổng xây cay, tường vành lao cổng xây cay; tổng giá trị tài sản trên đất là: 511.922.400đồng. Tổng giá trị tài sản giao cho anh K 731.667.400 đồng.

- Giao cho chị N được quản lý, sử dụng phần diện tích đất 132,6m² đất ở trị giá 139.230.000đồng. Diện tích đất chị N được giao bao gồm các điểm 1,5,6,7,8, cụ thể: Từ điểm 1 kéo dài đến điểm 8 là 9,2m, từ điểm 8 kéo dài đến điểm 7 là 2,55m, từ điểm 6 kéo dài đến điểm 7 là 11,07m và từ điểm 5 kéo dài đến điểm 6 là 10,58m. (có sơ đồ kèm theo bản án)

- Buộc anh K phải trích chia chênh lệch tài sản cho chị N là 296.218.700đồng.

* Về án phí:

- Chị Trương Thị N phải chịu 21.417.000đồng án phí sơ thẩm đối với phần tài sản được chia nhưng được trừ vào số tiền 14.000.000đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000848 ngày 17/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang;

- Anh Nguyễn Văn K phải chịu 21.417.000đồng án phí sơ thẩm đối với phần tài sản được chia.

* Về chi phí tố tụng:

- Khoản tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 6.141.000 đồng, anh K và chị N mỗi người phải chịu 3.070.500 đồng.

- Chị Trương Thị N phải chịu 3.070.500 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác nhận chị N đã nộp đủ số tiền 3.070.500 đồng.

- Anh Nguyễn Văn K phải hoàn trả cho chị N số tiền 3.070.500đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

* Về quyền kháng cáo:

  • - Đương sự hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  • - Đương sự cư trú tại Việt Nam, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Đương sự cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đến thời hạn thanh toán, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành án hoặc thi hành án không đầy đủ thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2, Điều 468 - Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tiền trên số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì các bên đương sự có quyền trực tiếp liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất được giao.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 - Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng Thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trung Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn

  • Số bản án: 199/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Chia tài sản chung sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thị N, Nguyễn Văn K chia tài sản chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger