|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 199/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 4 - 2025
Về việc “ Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Ông Đặng Văn Tác
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên sơ cấp
Trong ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 575/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024, về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 33/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1973.
Nơi cư trú: tổ G, ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0339.009.xxx – 0373.435.971;
2. Bị đơn: ông Nguyễn Phước H, sinh năm 1970
Nơi cư trú: tổ G, ấp M, xã T, huyện P, tỉnh An Giang.
(bà B xin vắng mặt, ông H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc B trình bày:
Bà và ông H do mai mối và được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới năm 1992, chung sống đến nay không có đăng ký kết hôn
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc cùng gia đình ông H, sau thời gian phát sinh mâu thuẫn về chuyện tiền bạc trong gia đình do ông H đi làm phụ hồ nhưng không lo cho vợ con, chỉ biết tiêu xài cá nhân nên từ đó vợ chồng bất đồng quan điểm và thường xuyên cãi nhau, ông H mỗi khi uống rượu thì chửi mắng vợ con và không có trách nhiệm với gia đình, bà nhiều lần khuyên can, nhưng ông H không thay đổi, cho đến năm 2006 phát sinh mâu thuẩn không thể dung hoà, nên bà đưa 02 con về nhà cha mẹ ruột sinh sống và ly thân với ông H cho đến nay. Từ khi ly thân đến nay vợ chồng cũng không liên lạc để hàn gắn, tình cảm giữa bà và ông H không còn, nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Phước H.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 08/9/1994 và Nguyễn Thị Ngọc D1, sinh ngày 14/10/1999, hiện 02 con đã thành niên và lao động tự nuôi sống bản thân, nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết
* Bị đơn ông Nguyễn Phước H vắng mặt không lý do từ khi Toà án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
- Về thủ tục tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên ông H vắng mặt suốt quá trình tố tụng là chấp hành pháp luật chưa nghiêm, ông cũng được tống đạt triệu tập để nghe xét xử đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, bà B có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt ông H và bà B theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: hôn nhân của ông bà do mai mối, được gia đình hai bên đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 1992 đến nay không có đăng ký kết hôn. Khi chung sống, sống chung với gia đình ông H, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn từ tiền chi tiêu trong gia đình, nguyên nhân do ông H lao động phụ hồ có được tiền công tiêu xài cá nhân, không phụ tiếp chăm lo cho vợ con, khi có rượu, bia kiếm chuyện chưởi mắm vợ con, tuy bà B có nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông H không thay đổi, đến năn 2006 thì tiếp tục phát sinh mâu thuẩn bà B đưa hai con về gia đình cha mẹ ruột sinh sống, từ đó vợ chồng ly thân, sau khi ly thân cả hai người không tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, vì vậy tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà B xin ly hôn. Mặt khác hôn nhân của ông, bà là hôn nhân không hợp pháp do không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật thừa nhận, vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận ông H bà B là vợ chồng theo quy định tại Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 08/9/1994 và Nguyễn Thị Ngọc D1, sinh ngày 14/10/1999, hiện 02 cháu đã thành niên và lao động tự nuôi sống bản thân, ông bà không có yêu cầu gì khác, nên đề nghị HĐXX không cần đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không phải giải quyết
Đồng thời buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về người tham gia tố tụng: nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc B yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, bà có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, bị đơn ông Nguyễn Phước H được tống đạt triệu tập lần thứ hai để nghe xét xử nhưng ông không có mặt, việc vắng mặt của ông, bà không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên HĐXX xét xử vắng mặt ông, bà theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: hiện nay ông Nguyễn Phước H cư trú tại ấp M, xã T, huyện P, tỉnh An Giang, nên bà Nguyễn Ngọc B khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về quan hệ tranh chấp: bà Nguyễn Ngọc B xin ly hôn với ông Nguyễn Phước H, nên quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện hôn nhân của ông bà do mai mối, được gia đình hai bên đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 1992 đến nay không có đăng ký kết hôn. Khi chung sống, sống chung với gia đình ông H, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn từ tiền chi tiêu sinh hoạt trong gia đình, nguyên nhân do ông H lao động phụ hồ có được tiền công tiêu xài cá nhân, không phụ tiếp chăm lo cho gia đình, khi có rượu, bia kiếm chuyện chưởi mắm vợ con, tuy bà B nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông H không thay đổi, đến năn 2006 thì tiếp tục phát sinh mâu thuẩn bà B đưa hai con về gia đình cha mẹ ruột sinh sống, từ đó vợ chồng ly thân, sau khi ly thân cả hai người không tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, vì vậy tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà B yêu cầu được ly hôn, do hôn nhân của ông, bà là hôn nhân không hợp pháp vì không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật thừa nhận, đã vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên Hội đồng xét xử không công nhận ông, bà là vợ chồng theo quy định tại Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về con chung: có 02 con đứa tên Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 08/9/1994 và Nguyễn Thị Ngọc D1, sinh ngày 14/10/1999, hiện 02 cháu đã thành niên và lao động tự nuôi sống bản thân, ông bà không có yêu cầu gì khác, nên hội đồng xét xử không cần đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc B là người xin ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 9; Điều 14; Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự;
- Căn cứ Điều 26; Điều 27; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về quan hệ hôn nhân: không công nhận bà Nguyễn Ngọc B và ông Nguyễn Phước H là vợ chồng.
- Về quan hệ con chung đã thành niên, nên không giải quyết
- Về tài sản và nợ chung: không giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Ngọc B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011480 ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, ông Nguyễn Phước H không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
| Đặng Văn T Nguyễn Thị Kim C | Bùi Văn C1 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Văn Chiến
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND huyện PT;
- - CCTHADS huyện PT;
- - TAND tỉnh An Giang;
- - Lưu: hồ sơ vụ án, TA.
Bản án số 199/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 199/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
