|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 199/2024/HS-ST |
Ngày: 28-10-2024 |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Văn Đức.
- Bà Hoàng Thị Phụng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Cao Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 194/2024/HSST ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Văn D, sinh ngày 17/12/1969, tại tỉnh Thái Bình;
Nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Đặng Xuân A (đã chết) và bà Trần Thị P (đã chết), có vợ là Vũ Thị P1 (đã ly hôn), có 01 con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định số 33/QĐ-TA ngày 12/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời hạn 02 năm; chấp hành xong ngày 03/4/2023.
Nhân thân: Từ tháng 3/1988 đến tháng 5/1990 tham gia nghĩa vụ quân sự.
- Ngày 14/8/1990, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an tỉnh T bắt, lập danh chỉ bản đối với Đặng Văn D về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 25/02/1992, Công an huyện K bắt, lập danh chỉ bản đối với Đặng Văn D về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 01/8/1992, Công an huyện K bắt đưa đi tập trung cải tạo, lập danh chỉ bản về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/7/1999, Công an thị xã T, tỉnh Thái Bình lập danh chỉ bản đối với Đặng Văn D về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Qua xác minh không có hồ sơ lưu trữ.
- Bản án số 28/HSST ngày 04/8/1995 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt Đặng Văn D 36 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản của công dân và tội Trộm cắp tài sản của công dân (D đã chấp hành xong bản án trên).
- Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục số 3523/QĐ-UB ngày 23/12/2004 của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh T đối với Đặng Văn D, thời hạn 24 tháng; chấp hành xong ngày 24/12/2006.
- Ngày 12/6/2008, Đặng Văn D bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội trong thời hạn 12 tháng (D đã chấp hành xong quyết định trên).
- Ngày 17/9/2010, Đặng Văn D bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao dộng xã hội trong thời hạn 12 tháng (D đã chấp hành xong quyết định trên).
- Bản án số 153/2012/HSST ngày 17/9/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/11/2014. Phần án phí hình sự sơ thẩm, qua xác minh không có trong hồ sơ lưu trữ của Cơ quan thi hành án dân sự.
Bị bắt tạm giam từ ngày 10/8/2024 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Chu Văn H, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Số nhà A, đường N, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Trọng T, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Đường V, tổ G, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/8/2024, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Đặng Văn D đi bộ ở các tuyến đường trên địa bàn phường T, thành phố T xem có tài sản mà chủ sở hữu sơ hở trong quản lý thì trộm cắp đem đi bán lấy tiền. Khoảng 13 giờ cùng ngày, D đi bộ qua quán bán đồ ăn chay của anh Chu Văn H, phát hiện thấy có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu biển số đăng ký 29X2 - 2497, trị giá 2.200.000 đồng của anh H đang để ở khu đất trống cạnh quán, xe dựng chân chống, đầu xe quay vào trong, đuôi xe quay ra đường, chìa khóa đang cắm ở ổ khóa điện. D quan sát thấy không có người trông coi nên đã đi lại dắt xe lùi ra ngoài đường rồi bật chìa khóa ở ổ khóa điện, nổ máy điều khiển xe đi ra cửa hàng thu mua phế liệu Loan T1, ở đường V, tổ G, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình gặp anh Vũ Trọng T là chủ cửa hàng. Tại đây D nói với anh T đây là xe của D do đã cũ nên muốn bán. Sau khi thỏa thuận D đã bán chiếc xe trên cho anh T với giá 800.000 đồng. Số tiền bán xe, D đã tiêu xài cá nhân hết.
Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: “Trị giá tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 29X2-2497 đã qua sử dụng; thời điểm định giá tháng 8/2024 là 2.200.000 đồng”.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thể hiện như lời khai của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 201/CT-VKSTPTB ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Đặng Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2024. Đề nghị hình phạt bổ sung bị cáo từ 5 đến 7 triệu đồng sung Ngân sách nhà nước. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra trả lại anh H 01 xe mô tô. Anh H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra giải quyết. Anh Vũ Trọng T đã nhận được số tiền 800.000 đồng không yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và còn được chứng minh bằng: Biên bản xác định hiện trường; Sơ đồ hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T lập ngày 07/8/2024 tại tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Bản Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T; Kết luận giám định số 1416/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp tin video gửi giám định” cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 13 giờ ngày 03/8/2024, tại khu đất trống cạnh nhà anh Chu Văn H, ở số nhà A, đường N, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Đặng Văn D đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy Honda Dream biển số đăng ký 29X2 - 2497 trị giá 2.200.000 đồng của anh H.
[3] Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Điều 173. Tội trộm cắp tài sản quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội và gây hoang mang cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Bị cáo đã biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, đã trả lại số tiền 800.000 đồng cho anh T nên giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị đưa ra xét xử, nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra trả lại anh H 01 xe mô tô; anh H đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra giải quyết.
[7] Đối với anh Vũ Trọng T khi mua chiếc xe mô tô của D, anh T không biết là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ xử lý đối với anh T. Đối với số tiền anh T bỏ ra mua xe mô tô 800.000 đồng, bị cáo đã trả cho anh T nên không đặt ra giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Văn D 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 10/8/2024.
- Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra trả lại anh H chiếc xe máy Honda Dream biển số đăng ký 29X2 – 2497.
- Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Văn D, bị hại anh Chu Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/10/2024. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Trọng T được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
6
Bản án số 199/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 199/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn D Trộm cắp tài sản
