Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 199/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM,TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Liên

Bà Bùi Thị Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Từ Sĩ Trần T - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 169/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 192/2024/QĐXXST-HS ngày 10/9/2024 đối với bị cáo:

Trần Đại Minh T1, sinh năm 1978; tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Khu phố F, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đại T2 (đã chết) và bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1954; có vợ tên Lê Thị Hoàng L1; có 01 người con, sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/6/2022, Trần Đại Minh T1 bị Công an thành phố P – T xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, với số tiền 1.500.000 đồng.

Bị cáo đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn H, sinh năm 1983

Nơi cư trú: Khu phố D, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

- Người làm chứng:

Ông Trần Văn M, sinh năm 1983

Nơi cư trú: Khu phố A, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Trần Thị L2, sinh năm 1970

Nơi cư trú: Khu phố D, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Ông H xin xét xử vắng mặt, ông M, bà L2 vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 09 năm 2023, Trần Đại Minh T1 lên mạng xã hội Facebook sử dụng tài khoản tên “Lộc Thịnh” nhắn tin tới tài khoản “Trung Tâm sát hạch lái xe An Ninh” hỏi và đặt mua 01 giấy phép lái xe giả hạng A1 đứng tên Trần Đại Minh T1, với giá 1.100.000 đồng. Sau khi đặt mua được khoảng 01 tuần Thái nhận được giấy phép lái xe giả hạng A1 nói trên. T1 sử dụng giấy phép lái xe giả hạng A1 để đi đường đối phó với cảnh sát giao thông nếu bị kiểm tra.

Đến khoảng đầu tháng 4 năm 2024, T1 nói cho hai người quen tên Nguyễn HTrần Văn M biết về việc T1 đang sử dụng giấy phép lái xe đặt mua trên mạng xã hội và hỏi anh H, anh M có giấy phép lái xe chưa, anh H và anh M chưa có giấy phép lái xe nên nhờ T1 đặt mua cho mỗi người 01 giấy phép lái xe hạng A1, giống như của T1 đang sử dụng. T1 nói giá 1.200.000 đồng/01 giấy phép lái xe hạng A1, anh H và anh M đồng ý mua, T1 chụp ảnh hai mặt căn cước công dân và chụp ảnh chân dung khuôn mặt của anh M và anh H gửi cho tài khoản “Trung tâm S” để làm giấy phép lái xe giả. T1 nhắn tin hỏi giá làm 02 giấy phép lái xe thì được tài khoản “Trung tâm S” giảm giá còn 1.100.000 đồng/01 giấy phép lái xe. T1 cung cấp cho “Trung tâm sát hạch lái xe An Ninh” số điện thoại của T1 là 0937896528 và địa chỉ nhận số giấy phép lái xe giả này tại nhà mẹ vợ của T1 ở địa chỉ số H, đường B, phường P, thành phố P - T. Đến sáng ngày 10/4/2024, nhân viên giao hàng gọi điện cho T1 nói giao hàng, T1 gọi điện thoại cho anh M báo đã có giấy phép lái xe, nói anh M chuẩn bị tiền 1.200.000 để nhận tiền, nhưng do anh M đang đi làm nên T1 tự bỏ tiền ra để nhận trước rồi thanh toán với anh M sau. Thái qua nhà anh H nói anh H đưa 1.200.000 đồng để đi lấy giấy phép lái xe, nhưng anh H chỉ đưa cho T1 1.000.000 đồng và nói T1 cho mượn 200.000 đồng, T1 đồng ý. Sau đó, T1 tới nhà mẹ vợ T1 ở địa chỉ số H đường B, phường P để gặp nhân viên giao hàng và nhận bưu phẩm, T1 mở bưu phẩm ra kiểm tra giấy phép lái xe đúng tên, tuổi, địa chỉ của anh M và anh H trên giấy phép lái xe, T1 thanh toán số tiền 2.200.000 đồng cho nhân viên giao hàng rồi đi đến quán cà phê Hoa D, tại ngã ba đường Tđường B ngồi uống nước thì bị tổ tuần tra giao thông trật tự Công an thành phố đến kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T1 xuất trình 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Đại Minh T1, tổ tuần tra nghi vấn đây là giấy phép lái xe giả nên tiếp tục kiểm tra phát hiện trong cốp xe của T1 có 02 giấy phép lái xe giả hạng A1 (Kèm 02 bộ hồ sơ thi giấy phép lái xe hạng A1) mang tên Trần Văn M, Nguyễn H.

Quá trình điều tra còn xác định: Khoảng đầu tháng 4/2024, T1 nhận đặt làm giấy phép lái xe giả hạng A1 cho chị Trần Thị L2 qua tài khoản Facebook tên “Trường D1” với giá 1.200.000 đồng/01 giấy phép lái xe, T1 thỏa thuận với chị L2 làm giấy phép lái xe với giá 1.200.000 đồng/01 giấy phép lái xe, khi nào nhận giấy phép lái xe thì giao tiền, giấy phép lái xe đang trên đường gửi tới địa chỉ số nhà H, đường B, phường P, thành phố P - T (Số điện thoại người nhận là của T1 0937896528). Công an thành phố P – T đã phối hợp với Bưu điện tỉnh N cùng với Trần Đại Minh T1, đã thu giữ 01 giấy phép lái xe giả hạng A1 mang tên Trần Thị L2 nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số 117/KL-KTHS ngày 10/05/2024 của Phòng K của Công an tỉnh N, kết luận:

  • + 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn H, số [...] cấp ngày 25/02/2024 (Ký hiệu A1) là giả;
  • + 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Văn M, số [...] cấp ngày 25/02/2024 (Ký hiệu A2) là giả;
  • + 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thị L2, số [...] cấp ngày 02/4/2024 (Ký hiệu A3) là giả;
  • + 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Đại Minh T1, số [...] cấp ngày 29/9/2023 (Ký hiệu A4) là giả;
  • - Hình dấu, chữ ký trên tài liệu mẫu cần giám định ký hiệu từ A5-A10 được in bằng phương pháp in phun màu.
  • + H1 lại đối tượng giám định là toàn bộ mẫu đã gửi đến giám định.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án đã nêu.

Cáo trạng số 161/CT-VKSPRTC ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố bị cáo Trần Đại Minh T1 về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Đại Minh T1 phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 341; điểm h, s khoản 1, Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Đại Minh T1 từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn và hối cải về hành vi của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P – T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn H có đơn xin xét xử vắng mặt và người làm chứng Trần Văn M, Trần Thị L2 vắng mặt tại phiên toà; Hội đồng xét xử xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt đã có lời khai trong vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt ông Nguyễn H, ông Trần Văn M, bà Trần Thị L2.
  3. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng tháng 04/2024, Trần Đại Minh T1 đã thực hiện hành vi cung cấp thông tin cá nhân, hình ảnh và địa chỉ của Nguyễn H, Trần Văn M, Trần Thị L2 đến địa chỉ tài khoản Facebook mang tên “Trung Tâm S” và “Trường D1” để đặt làm giả 03 Giấy phép lái xe hạng A1 mà không cần đăng ký học, thi sát hạch theo quy định tại các Trung tâm đào tạo lái xe do cơ quan Nhà nước cấp giấy phép. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang -T truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
  4. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội:

    Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước trong lĩnh vực quản lý về con dấu, tài liệu, gây ảnh hưởng xấu tại địa phương; do đó cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

  5. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi bị phát hiện bị cáo đã giao nộp lại toàn bộ giấy phép lái xe giả, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, hậu quả cho tổ chức, cá nhân nào. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo là thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo có cơ hội sửa chữa, rèn luyện bản thân.

  6. Về hình phạt:

    Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

  7. Đối với hành vi Trần Đại Minh T1 tự mua cho mình giấy phép lái xe hạng A1 sử dụng tham gia giao thông để đối phó với lực lượng công an khi bị kiểm tra, tuy có dấu hiệu của tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức” nhưng tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội không đáng kể. Căn cứ Công văn số 2915/VKSTC-V7 ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn và căn cứ Khoản 2, Điều 8 Bộ luật Hình sự thì không cần thiết phải xử lý hình sự đối với Trần Đại Minh T1 về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức” nên Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp” theo Điểm a, Khoản 5, Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/12/2019 được sửa đổi bổ sung tại khoản 11, Điều 2 Nghị định 123/NĐ-CP ngày 28/11/2021 là có căn cứ.
  8. Đối với người bán giấy phép lái xe hạng A1 giả cho Trần Đại Minh T1 là tài khoản Facebook tên “Trung Tâm S” và “Trường D1”, quá trình điều tra không xác định được chủ tài khoản nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có cơ sở.
  9. Đối với Nguyễn H, Trần Văn M, Trần Thị L2 đã có hành vi đặt mua giấy phép lái xe hạng A1 giả từ Trần Đại Minh Thái. Tuy nhiên, M, H, L2 chưa nhận được giấy phép lái xe, chưa sử dụng nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý là có căn cứ.
  10. Về xử lý vật chứng: 01 Giấy phép lái xe số [...], mang tên TRẦN ĐẠI MINH THÁI, sinh năm 1978, nơi thường trú khu phố F, phường T, thành phố P- T, tỉnh Ninh Thuận; 01 Giấy phép lái xe số [...], mang tên TRẦN VĂN M, sinh năm 1983, nơi cư trú khu phố A, phường V, thành phố P- T, tỉnh Ninh Thuận; 01 Giấy phép lái xe số [...], mang tên NGUYỄN H, sinh năm 1983, nơi cư trú khu phố D, phường V, thành phố P- T, tỉnh Ninh Thuận; 01 Giấy phép lái xe số [...], mang tên TRẦN THỊ L2, sinh năm 1970, nơi thường trú khu phố D, phường V, thành phố P- T, tỉnh Ninh Thuận; 03 bộ hồ sơ (Mỗi bộ hồ sơ gồm 01 biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe mô tô, 01 đơn đề nghị học sát hạch để cấp giấy phép lái xe, 01 giấy khám sức khỏe của người lái xe). Đây là vật chứng của vụ án nên Cơ quan điều tra đưa vào lưu trong hồ sơ vụ án là có cơ sở.
  11. 01 điện thoại Smartphone, nhãn hiệu Samsung màu đen, có gắn sim số 0937896528 của Trần Đại Minh T1 và số tiền 2.200.000 đồng thu giữ tại Bưu điện tỉnh N. Đây là vật chứng của vụ án nên Cơ quan điều tra đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là có cơ sở.
  12. 01 xe mô tô nhãn hiệu VISION, màu đen trắng, BKS 85C1-103.23, số khung RLHJF3304CY261511. Quá trình điều tra, xác định xe này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả cho Trần Đại Minh T1 là có cơ sở.
  13. Về án phí và quyền kháng cáo:

    Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 341; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Trần Đại Minh T1 phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

  2. Xử phạt: Bị cáo Trần Đại Minh T1 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Smartphone, nhãn hiệu Samsung màu đen, có gắn sim số 0937896528 của Trần Đại Minh T1 và số tiền 2.200.000 đồng thu giữ tại Bưu điện tỉnh N.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2024 giữa Công an thành phố P – T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T và theo Ủy nhiệm chi số 28 ngày 30/8/2024 giữa đơn vị trả tiền: Công an thành phố P – T và đơn vị nhận tiền: Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Trần Đại Minh T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Án xử công khai sơ thẩm; bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Tp. PR-TC;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - CQĐT Công an Tp. PR-TC;
  • - CQTHAHS Công an Tp. PR-TC;
  • - Chi cục THADS Tp. PR-TC;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 199/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Trần Đại Minh T 15 tháng tù giam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger