Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh Phúc

Bản án số: 199/2024/HS-ST

Ngày: 10-09-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Châu Thị Lệ

Nghề nghiệp: Nguyên chuyên viên phòng giáo dục đào tạo quận Gò Vấp.

Bà Võ Thị Mai

Nghề Nghiệp: Cán bộ hưu trí phường 07 quận Gò Vấp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 183/2024/HSST ngày 29/07/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2024/QĐXXST-HS ngày 20/08/2024 đối với các bị cáo:

1/ Võ Văn K; Giới tính: Nam; sinh ngày 29/08/2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 15/8/3 đường số E, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Võ Ngọc H và bà Lê Thị Đ; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 12/02/2024 (có mặt).

2/ Trần Khánh C; Giới tính: Nam; sinh ngày 30/06/2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: G Liên Khu L, khu phố G, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: 2 đường số A, khu phố G, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Hoàng Đ1 và bà Huỳnh Thị V; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 12/02/2024 (có mặt).

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Võ Văn K: Ông Võ Ngọc H, sinh năm 1982 (là cha ruột) và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1986 (là mẹ ruột); cùng địa chỉ: 1 đường số E, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Khánh C: Ông Trần Hoàng Đ1, sinh năm 1986 (là cha ruột) và bà Huỳnh Thị V, sinh năm 1986 (là mẹ ruột); cùng địa chỉ: 2 đường số A, khu phố G, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị hại: Bà Ngô Thị Lệ T, sinh năm 1966; địa chỉ: 6 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Văn M, sinh năm 1970; địa chỉ: xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Võ Văn K: Ông Huỳnh Tấn D2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H; địa chỉ: D N, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Trần Khánh C: Ông Đoàn Trọng N – Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H; địa chỉ: D N, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 00 ngày 10/02/2024, Võ Văn K (Sinh ngày: 29/8/2008) và Trần Khánh C (Sinh ngày: 30/6/2008) ngồi uống cà phê ở quận B. Tại đây, Võ Văn K nảy sinh ý định cướp giật tài sản nên rủ Trần Khánh C cùng thực hiện, Trần Khánh C đồng ý. Võ Văn K điều khiển xe máy hiệu Wave, biển số 98B2-843.25 chở Trần Khánh C ngồi sau, đi trên nhiều tuyến đường thuộc quận B và quận G tìm tài sản để cướp giật. Khi đi đến khu công nghiệp T, Võ Văn K mệt nên đổi cho Trần Khánh C cầm lái còn Võ Văn K ngồi sau. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang di chuyển trên đường L, quận G thì Võ Văn K phát hiện chị Ngô Thị Lệ T đang điều khiển xe máy đi cùng chiều trên cổ đeo một dây chuyền vàng nên nói Trần Khánh C chạy theo để cướp giật, Trần Khánh C điều khiển xe vượt lên chiếc xe của chị Ngô Thị Lệ T và dừng lại trước một con hẻm chờ đợi. Khi đến địa chỉ số F đường L, Phường A, quận G Trần Khánh C điều khiển xe áp sát vào xe máy của chị Ngô Thị Lệ T để Võ Văn K ngồi sau dùng tay phải giật sợi dây chuyền trên cổ của chị Ngô Thị Lệ T rồi cả hai tăng ga tẩu thoát. Chị Ngô Thị Lệ T tăng ga đuổi theo và la lớn “cướp, cướp”. Lúc này, Võ Văn K và Trần Khánh C chạy vào hẻm cụt gần đó thì bị chị Ngô Thị Lệ T đuổi kịp và tri hô cùng quần chúng nhân dân hỗ trợ. Võ Văn K vứt sợi dây chuyền vàng vừa giật được xuống đường, cùng Trần Khánh C bỏ lại xe máy Wave, biển số 98B2-843.25 tại trước địa chỉ: số F đường L, Phường A, quận G để tẩu thoát. Qua truy xét, Cơ quan điều tra Công an quận G đã đưa Võ Văn K và Trần Khánh C về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G, Võ Văn K và Trần Khánh C khai nhận toàn hành vi phạm tội như trên (BL: 37 – 44, 90 – 96).

Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) dây chuyền vàng trọng lượng 3,55 gram có 01 mặt đá là tài sản của chị Ngô Thị Lệ T bị cướp giật. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐGTS ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân quận G kết luận: giá trị của tài sản tại yêu cầu định giá tài sản số 2829 ngày 15/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an quận G theo giá thị trường tại thời điểm định giá là 3.634.667 đồng (Ba triệu sáu trăm ba mươi bốn ngàn sáu trăm sáu bảy đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã trả lại tài sản trên cho người bị hại là chị Ngô Thị Lệ T (BL: 166 – 168, 174).

- 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu Honda Future, biển số 98B2-843.25, số khung: RLHJA0205YY048637, số máy JA02E-0048649 thu giữ của Võ Văn K, xe gắn máy trên do Võ Văn K mua lại tại cửa hàng ở quận T (không nhớ địa chỉ) để làm phương tiện đi lại đến ngày 10/02/2024 Võ Văn K sử dụng làm phương tiện đi cướp giật tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G tiến hành trưng cầu giám định xe gắn máy biển số 98B2-843.25, có số khung: RLHJA0205YY048637; số máy: JA02E-0048649 gửi phòng K1 PC09, Công an Thành phố H. Căn cứ Kết luận giám định: xe gắn máy trên có số khung, số máy nguyên thủy không bị đục lại số. Qua xác minh xe gắn máy trên do ông Ngô Văn M, sinh năm 1970, địa chỉ: L, T, V, Bắc Giang đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã đăng báo tìm chủ sở hữu và Uỷ thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện V, tỉnh Bắc Giang để xác minh và ghi lời khai Ngô Văn M về nguồn gốc xe gắn máy trên nhưng đến nay chưa có kết quả (BL: 163).

- 01 (một) USB ghi nhận hình ảnh sự việc;

- 01 (một) áo sơ mi tay dài màu đen, 01 (một) quần Jean màu xanh có vệt trắng của Trần Khánh C mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

- 01 (một) áo khoác tay dài tay màu đen có chữ Adidas trên ngực trái, hai bên ống tay có 03 sọc, 01 (một) áo thun màu đen, có dán nhãn hiệu Vicenzo, 01 (một) quần Jean màu xanh có vệt trắng, 01 (một) đôi dép màu đen có chữ Louis Vuitton của Võ Văn K mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số Imel: 356727080827734 của Võ Văn K.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã tiến hành nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho số 142/PNK ngày 25/06/2024 để giải quyết theo vụ án (BL: 175, 176).

Về trách nhiệm dân sự: chị Ngô Thị Lệ T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 196/Ctr-VKS ngày 26/07/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố các bị cáo Trần Khánh C và Võ Văn K về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Xử phạt bị cáo Trần Khánh D từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Võ Văn K từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc xe gắn máy hiệu Honda Future, biển số 98B2-843.25, số khung: RLHJA0205YY048637, số máy JA02E-0048649.
  • - Trả lại cho bị cáo Võ Văn K chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X, số I: 356727080827734.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi tay dài màu đen, 01 quần Jean màu xanh có vệt trắng, 01 áo khoác tay dài tay màu đen có chữ Adidas trên ngực trái, hai bên ống tay có 03 sọc, 01 (một) áo thun màu đen, có dán nhãn hiệu Vicenzo, 01 (một) quần Jean màu xanh có vệt trắng, 01 (một) đôi dép màu đen có chữ Louis Vuitton, do các bị cáo không nhận lại.
  • - Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 1 USB ghi hình các bị cáo cướp giật.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo C trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo D. Nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết. Lúc phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, (dưới 16 tuổi) chưa có tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trình độ văn hóa thấp, Thiếu sự giáo dục của gia đình do cha mẹ ly hôn khi bị cáo còn nhỏ phải ở với bà nội, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất để có điều kiện hòa nhập với xã hội.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo K trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo K. Nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết. Lúc phạm tội bị cáo là người chưa thành niên (dưới 16 tuổi), chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất để có điều kiện hòa nhập với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì các bị cáo Trần Khánh C và Võ Văn K đã khai nhận hành vi cướp giật tài sản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Trần Khánh C và bị cáo Võ Văn K phạm tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điều 171 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Trần Khánh C và bị cáo Võ Văn K sử dụng phương tiện xe gắn máy để đi cướp giật là dùng thủ đoạn nguy hiểm để phạm tội, vì hành vi này có thể xâm hại đến sức khỏe tính mạng của người bị hại và chính bản thân của bị cáo, có thể gây ra tai nạn làm chết người, gây mất trật tự an toàn giao thông nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự là phù hợp với qui định pháp luật.

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, bị cáo K là người khởi xướng, rủ bị cáo C thực hiện hành vi cướp giật tài sản thì bị cáo C đồng ý, bị cáo C chạy xe áp sát vào bị hại, để bị cáo K dùng tay phải giật sợi dây chuyền của của bị hại là chị Ngô Thị Lệ T qua định giá có giá trị là 3.634.667 đồng, nên hình phạt đối với bị cáo K phải cao hơn bị cáo C.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, giữa nơi công cộng đông người qua lại bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất táo bạo và liều lĩnh bất chấp hậu quả xảy ra, qua đó thể hiện ý thức của bị cáo rất xem thường pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo K và C ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho các bị cáo các tình tiết: Tại cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên toà hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản các bị cáo cướp giật đã được thu hồi trả lại cho bị hại, lúc phạm tội bị cáo Trần Khánh C và bị cáo Võ Văn K là người chưa thành niên (dưới 16 tuổi) nên Hội đồng xét xử áp dụng điều 90, điểm b điều 91 Bộ luật hình sự cho các bị cáo khi lượng hình.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật hình sự, do các bị cáo là người chưa thành niên nên không phạt bổ sung..

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên toà hôm nay, người bị hại là chị Ngô Thị Lệ T vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện chị T đã nhận lại tài sản bị cướp giật và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

[7] Về xử lý vật chứng

  • - Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Honda Future, biển số 98B2-843.25, số khung: RLHJA0205YY048637, số máy JA02E-0048649 do bị cáo Võ Văn K mua lại tại cửa hàng bán xe chưa làm thủ tục sang tên, bị cáo sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi cướp giật tài sản nên hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X là tài sản riêng của bị cáo K không liên quan đến vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, điểm b khoản 2 Điều 91; Khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Võ Văn K và bị cáo Trần Khánh C phạm tội “Cướp giật tài sản”;

Xử phạt bị cáo Trần Khánh C 01(một) năm tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 12/02/2024.

Xử phạt bị cáo Võ Văn K 01(một) năm 03(ba) tháng tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 12/02/2024

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc xe gắn máy hiệu Honda Future, biển số 98B2-843.25, số khung: RLHJA0205YY048637, số máy JA02E-0048649.
  • - Trả lại cho bị cáo Võ Văn K chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X, số I: 356727080827734.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi tay dài màu đen, 01 quần Jean màu xanh có vệt trắng, 01 áo khoác tay dài tay màu đen có chữ Adidas trên ngực trái, hai bên ống tay có 03 sọc, 01 (một) áo thun màu đen, có dán nhãn hiệu Vicenzo, 01 (một) quần Jean màu xanh có vệt trắng, 01 (một) đôi dép màu đen có chữ Louis Vuitton.
  • - Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 1 USB ghi hình các bị cáo cướp giật. (Theo phiếu nhập kho vật chứng số 142/PNK ngày 25/06/2024 của cơ quan cảnh sát điều tra công an quận G)

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Các bị cáo, người đại diện hợp cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhân:

  • -TAND TPHCM;
  • -VKSND TPHCM;
  • -Viện kiểm sát quận Gò Vấp;
  • -Công an quận Gò Vấp;
  • -Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tường Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản (criminal first instance)

  • Số bản án: 199/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Criminal First Instance)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn Kiệt và đồng bọn phạm tội “Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger