|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 199/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10-9-2024
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình:
Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Minh Quốc và bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 249/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 154/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc N, sinh năm 1994;
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang
Bị đơn: Anh Dương Thế N1, sinh năm 1997;
Địa chỉ: Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang;
Tại phiên tòa, chị Trần Thị Ngọc N có mặt, anh Dương Thế N1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Trần Thị Ngọc N trình bày:
Chị và anh Dương Thế N1 do tự tìm hiểu rồi chung sống với nhau từ năm 2018, có tổ chức đám cưới và có đăng ký hết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và một con chung tên Dương Trần Bảo V, sinh ngày 03/11/2019. Tuy nhiên sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh N1 có mối quan hệ với người phụ nữ khác, đã ly thân từ đầu năm 2023.
Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc N yêu cầu được ly hôn anh Dương Thế N1;
Về con chung: Có một con chung tên Dương Trần Bảo V, sinh ngày 03/11/2019. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh Dương Thế N1 cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Dương Thế N1 để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Dương Thế N1 vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Dương Thế N1 cũng như không tiến hành hòa giải được.
Tòa án đã ban hành thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ và thông báo cho anh Dương Thế N1 biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng anh Dương Thế N1 cũng không có ý kiến phản hồi.
Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc N trình bày: Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Dương Thế N1; yêu cầu được nuôi con chung tên Dương Trần Bảo V, sinh ngày 03/11/2019, không yêu cầu anh Dương Thế N1 cấp dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Dương Thế N1 vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tại phiên tòa, chị Trần Thị Ngọc N có mặt, anh Dương Thế N1 vắng mặt lần thứ hai không lý do nên căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc N
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc N được ly hôn với anh Dương Thế N1.
Về con chung: Giao cháu Dương Trần Bảo V, sinh ngày 03/11/2019 cho chị Trần Thị Ngọc N nuôi dưỡng; anh Dương Thế N1 không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về chi phí tố tụng và án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Chị Trần Thị Ngọc N và anh Dương Thế N1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2021 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang cấp ngày 17 tháng 02 năm 2021). Anh Dương Thế N1 có địa chỉ thường trú tại: Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chị Trần Thị Ngọc N khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Dương Thế N1; yêu cầu được nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Tại phiên tòa, chị Trần Thị Ngọc N có mặt, anh Dương Thế N1 vắng mặt lần thứ hai không lý do nên căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Xét việc tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị Ngọc N và anh Dương Thế N1 xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 17 tháng 02 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Chị Trần Thị Ngọc N cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên do bất đồng quan điểm sống, đã ly thân từ đầu năm 2023. Anh Dương Thế N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc N và cũng không cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ thể hiện phản bác hay chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc N cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài.
Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Trần Thị Ngọc N được ly hôn với anh Dương Thế N1.
[2.2] Về con chung:
Chị Trần Thị Ngọc N trình bày chị và anh Dương Thế N1 có một con chung là Dương Trần Bảo V, sinh ngày 03/11/2019, hiện tại cháu đang sống cùng chị Trần Thị Ngọc N.
Xét thấy, việc giao cháu Dương Trần Bảo V cho chị Trần Thị Ngọc N tiếp tục nuôi dưỡng là cần thiết để không làm ảnh hưởng cuộc sống của cháu.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Ngọc N giao cháu Dương Trần Bảo V, sinh ngày 03/11/2019 cho chị Trần Thị Ngọc N nuôi dưỡng.
[2.3] Về cấp dưỡng cho con:
Tòa án đã giải thích về nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhưng chị Trần Thị Ngọc N vẫn không yêu cầu anh Dương Thế N1 cấp dưỡng cho con, quá trình giải quyết vụ án anh Dương Thế N1 cũng không có ý kiến về việc cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung: Chị Trần Thị Ngọc N trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về nợ chung: Chị Trần Thị Ngọc N trình bày không có nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Như các phân tích nêu trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc N.
1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc N được ly hôn với anh Dương Thế N1.
2. Về con chung: Giao cháu Dương Trần Bảo V, sinh ngày 03/11/2019 cho chị Trần Thị Ngọc N nuôi dưỡng. Anh Dương Thế N1 không cấp dưỡng cho con.
Anh Dương Thế N1 và các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của chị Trần Thị Ngọc N. Chị Trần Thị Ngọc N và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Dương Thế N1 trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về quan hệ tài sản:
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Ghi nhận chị Trần Thị Ngọc N xác định không có nợ chung. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh, chị trong thời kỳ sống chung thì chị Trần Thị Ngọc N và anh Dương Thế N1 phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013976 ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn. Chị Trần Thị Ngọc N đã nộp đủ.
Anh Dương Thế N1 không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Trí Nguyên |
Bản án số 199/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 199/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị Ngọc Nhi được ly hôn với anh Dương Thế Nhân.
