Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 199/2024/DS-PT

Ngày 23 - 4 - 2024

“V/v tranh chấp dân sự về

thừa kế quyền sử dụng đất,

hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất, quyền sử

dụng đất, bồi thường thiệt

hại về tài sản”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tặng
Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt;
Ông Nguyễn Chí Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20-3-2024, ngày 16, 23-4-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 195/2023/TLPT-DS ngày 07 tháng 6 năm 2023, về việc “Tranh chấp dân sự về thừa kế quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại về tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2022/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 02/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 01 năm 2024, giữa:

* Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị H, sinh năm: 1928 (chết);

Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ H:

  1. Ông Huỳnh Văn N, sinh năm: 1951;

Người đại diện hợp pháp cho ông Huỳnh Văn N: Anh Huỳnh Thanh T, sinh năm 1986 và anh Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1989. Là người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 14/3/2022, ngày 22/9/2019.

Cùng địa chỉ: ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Huỳnh Văn N:

- Luật sư Hồ Thị Xuân H1, Luật sư Võ Thị T2-Văn phòng L7, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ.

  1. Bà Huỳnh Thị T3, sinh năm: 1959;
  2. Bà Huỳnh Thị L, sinh năm: 1966 (chết ngày 06/02/2020);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Huỳnh Thị L:

  • Ông Nguyễn Văn Ả, sinh năm 1959;
  • Chị Nguyễn Thị Hồng N1, sinh năm 2001;
  • Chị Nguyễn Thị Phú Q, sinh năm 2003;

Cùng địa chỉ: ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Ông Huỳnh Văn X, sinh năm: 1968;

Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Bà Huỳnh Thị T4, sinh năm: 1962;

Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Ông Huỳnh Văn H2, sinh năm: 1950;

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Bà Huỳnh Thị H3, sinh năm: 1946;

Người đại diện hợp pháp cho bà H3: Chị Bùi Thị Kim T5, sinh năm 1982. Là người đại diện theo văn bản ủy quyền ngày 01/7/2022.

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;

* Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Ú, sinh năm: 1972;

Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Huỳnh Thị Ú: Luật sư Lê Văn L1, Văn phòng Luật sư Phạm Minh T6, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn T7, sinh năm: 1971;

Địa chỉ: ấp 6B, xã Trường Xuân, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Chỗ ở: Khóm 2, TT Mỹ An, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1970;

Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Chị Huỳnh Thị Mộng H4, sinh năm: 1991;
  2. Chị Huỳnh Thị Cẩm H5, sinh năm: 1992;
  3. Anh Huỳnh Văn Lý H6, sinh năm: 1997;

Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1954;
  1. Anh Huỳnh Văn T8, sinh năm: 1980;
  2. Chị Võ Thị N2, sinh năm: 1980;
  3. Anh Huỳnh Văn C, sinh năm: 1975;
  4. Anh Huỳnh Văn T9, sinh năm: 1977;
  5. Anh Huỳnh Văn H7, sinh năm: 1987;

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Bà Đoàn Thị Ngọc O, sinh năm: 1964;
  2. Ông Huỳnh Bé T10, sinh năm: 1952; chết ngày 10/4/2023.

Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Bé T11:

  • Bà Đoàn Thị O1, sinh năm 1964.
  • Anh Huỳnh Thiện T12, sinh năm: 1989;
  • Anh Huỳnh Thiện H8, sinh năm: 1990;
  • Anh Huỳnh Thiện P1, sinh năm: 1992;
  • Anh Huỳnh Phúc T13, sinh năm: 1996;
  1. Anh Huỳnh Thiện T12, sinh năm: 1989;
  2. Anh Huỳnh Thiện H8, sinh năm: 1990;
  3. Anh Huỳnh Thiện P1, sinh năm: 1992;
  4. Anh Huỳnh Phúc T13, sinh năm: 1996;

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Ngân hàng N10 - Chi nhánh huyện T; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh P2, chức vụ: Giám đốc;

Địa chỉ: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Ủy ban nhân dân huyện T.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Thanh B- Chức vụ: Chủ tịch.

Địa chỉ: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Chị Huỳnh Thị T14, sinh năm 1980;
  2. Anh Huỳnh Thiện N3, sinh năm 1984;
  3. Anh Huỳnh Thanh T, sinh năm 1986;
  4. Anh Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1989;
  5. Chị Huỳnh Thị Hương L2, sinh năm 1995;
  6. Chị Phan Thị N4, sinh năm 1992;
  7. Ông Huỳnh Văn H2, sinh năm 1950;
  8. Bà Võ Thị Đ, sinh năm 1958;

Người đại diện hợp pháp cho bà Đ: Anh Huỳnh Thanh T, sinh năm 1986. Là người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 14/3/20022.

Cùng địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Võ Thị Đ:

- Luật sư Hồ Thị Xuân H1, Luật sư Võ Thị T2-Văn phòng L7, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ.

  1. Anh Trần Thanh L3, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

  1. Chị Nguyễn Thị Bé H9, sinh năm 2003;
  2. Chị Nguyễn Thị Thanh H10, sinh năm 2004;

Cùng địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, Đồng Tháp.

  1. Bà Huỳnh Thị T3, sinh năm: 1959;
  2. Huỳnh Thị L, sinh năm: 1966 (chết ngày 06/02/2020);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Huỳnh Thị L:

  • Ông Nguyễn Văn Ả, sinh năm 1959;
  • Chị Nguyễn Thị Hồng N1, sinh năm 2001;
  • Chị Nguyễn Thị Phú Q, sinh năm 2003;

Cùng địa chỉ: ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Ông Huỳnh Văn X, sinh năm: 1968.

Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Bà Huỳnh Thị T4, sinh năm: 1962;

Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Bà Huỳnh Thị H3, sinh năm: 1946;

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp cho bà Huỳnh Thị H3: Chị Bùi Thị Kim T5, sinh năm 1982. Là người đại diện theo ủy quyền, theo văn bản ủy quyền ngày 01/7/2022.

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;

  1. Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1951;

Người đại diện hợp pháp cho ông Huỳnh Văn N: Anh Huỳnh Thanh T, sinh năm 1986 và anh Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1989. Là người đai diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 14/3/2022, ngày 22/9/2019.

Cùng địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Huỳnh Văn N:

- Luật sư Hồ Thị Xuân H1, Luật sư Võ Thị T2, Văn phòng L7, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ.

* Người kháng cáo: Ông Huỳnh Văn N, bà Võ Thị Đ, ông Huỳnh Văn H2 và ông Huỳnh Văn X là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Anh T15, anh T, ông Xã, bà T4, chị T5, bà T3, ông H2, ông Ả, bà Ú, ông Nguyễn T7, bà M, chị N5, chị Q, anh N3, Luật sư H1, Luật sư T2, Luật sư L1 có mặt tại phiên tòa. Riêng bà Ú, ông Nguyễn T7, chị T5, Luật sư L1 vắng mặt phiên tòa ngày 16, 23/4/2024. Các đương sự còn lại vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, các nguyên đơn là những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Đoàn Thị H gồm có: Huỳnh Văn N, Huỳnh Thị T3, Huỳnh Văn X, Huỳnh Thị T4, Huỳnh Văn H2, Huỳnh Thị L, Huỳnh Thị H3 trình bày:

Nguồn gốc đất của mẹ là cụ Đoàn Thị H có diện tích đất là 44.777 m², thuộc tờ bản đồ số 06, thuộc thửa 151, 163, 164, 165, 449 đất tọa lạc ấp F, xã T. Vào năm 2006, cụ H kiện bà Ú đòi lại đất, năm 2013 cụ H chết, nên các anh, chị, em thống nhất tiếp tục kiện bà Ú về việc bà Ú tự ý lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cụ H đứng tên sang tên tách bộ 25.977 m². Sau đó, bà Ú bán lại cho bà Đoàn Thị Ngọc O diện tích 16.000m² thửa 639, tờ bản đồ số 6, loại đất tràm.

+ Ông Huỳnh Văn N trình bày:

Ông N yêu cầu bà Ú trả lại diện tích đất 25.977 m²cho cụ H gồm các thửa 639, diện tích 16.000m², đất tràm; thửa 163 diện tích 2.790m², đất CDK; thửa 164, diện tích 2.387m², đất LNK; thửa 579, diện tích 1.650m², đất thổ, thửa 580, diện tích 3.150m², đất CDK, tất cả các thửa thuộc tờ bản đồ số 06, để chia thừa kế theo pháp luật.

Ông N không yêu cầu chia thừa kế, ông N yêu cầu Tòa án chấp nhận công nhận cho ông N được sử dụng diện tích đất 6.000m², thửa 165 và diện tích đất lúa 5.872m², thuộc một phần thửa 640; yêu cầu thu hồi một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất 165, 640 diện tích nói trên của cụ H để cấp

lại cho ông N. Ông N không yêu cầu bồi thường giá trị đất, cây trồng trên đất tại một phần thửa 165, một phần thửa 640; nếu yêu cầu của ông N không được Tòa án chấp nhận. Ông N cũng không yêu cầu tiền trang sửa đất và khai mở một phần thửa 640, diện tích 5.872m² và thửa 165, diện tích 6.000m², ông N đồng ý chừa một phần đất (hiện nay có sẵn) để làm lối đi chung.

Ngoài ra, ông N yêu cầu bà Huỳnh Thị Ú, Huỳnh Thị T3, bồi thường số tiền thiệt hại do không canh tác đất năm 2017 là 14.680.000 đồng và yêu cầu ông Huỳnh Văn X bồi thường năm 2018 là 14.680.000 đồng. Ông N đồng ý để phần nhà và khu mồ mã cho ông Xã quản lý làm đất hương quả. Phần đất thửa 640 là cấp cho hộ cụ H, nhưng thực tế là đất của cá nhân cụ H, ông N không có ý kiến và tranh chấp gì đối với thành viên trong hộ. Ông N không yêu cầu chia thừa kế đất cụ H.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông N trình bày trường hợp phần đất ông N yêu cầu phải chia thừa kế thì ông N yêu cầu được nhận đất và tính công sức đóng góp cho gia đình ông N bằng cách được chia đất nhiều hơn các hàng thừa kế khác và yêu cầu được nhận đất tiếp giáp với phần đất mà ông N được chia để thuận tiện cho việc canh tác.

+ Ông Huỳnh Văn H2 trình bày:

Ông H2 đang quản lý, sử dụng diện tích 2.802m² của cụ H từ năm 1997 đến nay. Ông H2 thống nhất trả lại đất cho cụ H để anh, em chia thừa kế.

Ông H2 yêu cầu bà Ú trả lại diện tích đất 25.977 m² cho cụ H gồm các thửa 639 diện tích 16.000m² (đất tràm), thửa 163 diện tích 2.790m² (đất CDK), thửa 164 diện tích 2.387m² (đất LNK), thửa 579 diện tích 1.650m² (đất thổ), thửa 580 diện tích 3.150m² (đất CDK), tất cả các thửa thuộc tờ bản đồ số 06, để chia thừa kế theo pháp luật; Ông H2 không yêu cầu phản tố tiền công trang sửa đất và ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Ông H2 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà O. Ông H2 yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất của cụ H và cụ Nó chết để lại theo pháp luật. Ông H2 không tranh chấp cây trồng vật kiến trúc trên phần đất tranh chấp, nếu Tòa án xét xử tuyên buộc cho người nào sử dụng đất thì sử dụng vật kiến trúc và cây trồng trên đất. Ông H2 thống nhất để căn nhà, phần nhà mộ cụ N6 và cụ H để lại cho ông Xã sử dụng và thờ cúng. Ông H2 không có yêu cầu giám định chữ ký dấu vân tay của cụ H tại hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng tặng cho từ cụ H cho bà Ú; Ông H2 yêu cầu Tòa án xem xét các chứng cứ khác để hủy hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng tặng cho

từ cụ H qua bà Ú. Ông H2 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà O, ông T11; phần đất thửa 639 là của cụ H, nên ông H2 không có tranh chấp hay ý kiến gì đối với ông Bé T11, bà O. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông N, thì ông H2 không đồng ý. Phần đất thửa 640 cấp cho hộ cụ H, nhưng thực tế là đất của cá nhân cụ H, ông H2 không có ý kiến và tranh chấp gì đối với thành viên trong hộ. Ông H2 đồng ý giao phần đất nhà và khu mồ mã cho anh X quản lý để làm đất hương quả.

Nay ông H2 yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng mà cụ H chuyển nhượng và tặng cho bà Ú vào năm 2001 và 2005 và yêu cầu tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng và tặng cho từ cụ H sang bà Ú năm 2001 và 2005 là vô hiệu; không đồng ý theo yêu cầu của ông N và bà Ú; chia đều cho 9 người diện tích đất 16.000m² mà bà Ú chuyển nhượng cho bà O; chia đều cho 9 người phần diện tích 10.000m², có hai ngôi nhà của ông Xã và bà Ú, giữ nguyên hiện trạng nhà cho bà Ú và ông Xã. Chia đều cho 9 người phần diện tích 18.000m² có ba ngôi nhà của ông H2, ông N và bà L, giữ nguyên hiện trạng ba căn nhà của ông H2, bà L và ông N.

+ Ông Huỳnh Văn X trình bày:

Hiện nay, phần đất này ông đang canh tác từ năm 1997 đến nay diện tích 2.802 m², ông thống nhất trả lại đất cho cụ H để anh, em chia thừa kế, ông không có tranh chấp phần đất này. Nay ông yêu cầu bà Ú trả lại diện tích đất 25.977 m² cho cụ H gồm các thửa 639, diện tích 16.000m² (đất tràm), thửa 163 diện tích 2.790m² (đất CDK), thửa 164 diện tích 2.387m² (đất LNK), thửa 579 diện tích 1.650m² (đất thổ), thửa 580 diện tích 3.150m² (đất CDK), tất cả các thửa thuộc tờ bản đồ số 06, để chia thừa kế theo pháp luật; ông không yêu cầu phản tố tiền công trang sửa đất và ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Ông không đồng ý theo yêu cầu của bà O và ông Bé T11, vì đất thửa 639 là của cụ H, ngoài ra, ông cũng không khởi kiện phần đất tại thửa 639 đối với ông Bé T11 và bà O.

Ông yêu cầu được chia thừa kế quyền sử dụng đất của cụ H và cụ N6 chết để lại, ông yêu cầu được chia thừa kế ngay phần đất và nhà ông đang sử dụng để ông thờ cúng cha mẹ và quản lý phần nhà mồ. Ngoài ra, ông không tranh chấp cây trồng vật kiến trúc trên phần đất tranh chấp, nếu Tòa án xét xử tuyên buộc cho người nào sử dụng đất thì sử dụng vật kiến trúc và cây trồng trên đất. Ngoài ra, ông không yêu cầu giám định chữ ký dấu vân tay của cụ H tại hợp đồng

chuyển nhượng và hợp đồng tặng cho từ cụ H cho bà Ú; ông yêu cầu Tòa án xem xét các chứng cứ khác để hủy hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng tặng cho từ cụ H qua bà Ú. Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà O, ông T11; đối với yêu cầu khởi kiện của ông N, ông không đồng ý. Ông yêu cầu được đứng tên phần nhà thờ và khu mồ mã để ông đứng tên và quản lý làm đất hương quả. Phần đất thửa 640 để là cấp cho hộ cụ H, nhưng thực tế là đất của cá nhân cụ H, ông không có ý kiến và tranh chấp gì đối với thành viên trong hộ đối với thửa 640.

Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng mà cụ H chuyển nhượng và tặng cho bà Ú vào năm 2001 và 2005 và yêu cầu tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng và tặng cho từ cụ H sang bà Ú năm 2001 và 2005 là vô hiệu; không đồng ý theo yêu cầu của ông N và bà Ú; chia đều cho 9 người diện tích đất 16.000m² mà bà Ú chuyển nhượng cho bà O; chia đều cho 9 người phần diện tích 10.000m², có hai ngôi nhà của ông Xã và bà Ú, giữ nguyên hiện trạng nhà cho bà Ú và ông Xã. Chia đều cho 9 người phần diện tích 18.000m² có ba ngôi nhà của ông H2, ông N và bà L, giữ nguyên hiện trạng ba căn nhà của ông H2, bà L và ông N.

+ Bà Huỳnh Thị T3 trình bày:

Bà Huỳnh Thị T3 trình bày bà yêu cầu được chia thừa kế quyền sử dụng đất của cụ H và cụ Nó chết để lại. Ngoài ra, bà không tranh chấp cây trồng vật kiến trúc trên phần đất tranh chấp, nếu Tòa án xét xử tuyên buộc cho người nào sử dụng đất thì sử dụng vật kiến trúc và cây trồng trên đất. Ngoài ra, bà không yêu cầu giám định chữ ký dấu vân tay của cụ H tại hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng tặng cho từ cụ H cho bà Ú; bà yêu cầu Tòa án xem xét các chứng cứ khác để hủy hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng tặng cho từ cụ H qua bà Ú. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông N, bà không đồng ý và bà không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông N. Ngoài ra, bà yêu cầu ông N, chừa phần đất làm lối đi chung (cặp đất ông N) để đi ra lộ. Phần đất thửa 640 để là cấp cho hộ của cụ H, nhưng thực tế là đất của cá nhân cụ H, bà không có ý kiến và tranh chấp gì đối với thành viên trong hộ.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng mà cụ H chuyển nhượng và tặng cho bà Ú vào năm 2001 và 2005 và yêu cầu tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng và tặng cho từ cụ H sang bà Ú năm 2001 và 2005 là vô hiệu; không đồng ý theo yêu cầu của ông N và bà Ú; chia đều cho 9 người diện tích

đất 16.000m² mà bà Ú chuyển nhượng cho bà O (trong phần 16.000m²; chia đều cho 9 người phần diện tích 10.000m², có hai ngôi nhà của ông Xã và bà Ú, giữ nguyên hiện trạng nhà cho bà Ú và ông Xã. Chia đều cho 9 người phần diện tích 18.000m² có ba ngôi nhà của ông H2, ông N và bà L, giữ nguyên hiện trạng ba căn nhà của ông H2, bà L và ông N. Bà T3 thống nhất giao phần nhà thờ và khu mồ mã để ông Xã đứng tên và quản lý làm đất hương quả.

+ Bà Huỳnh Thị T4 trình bày:

Bà T4 thống nhất theo lời trình bày của ông H2 và ông Xã. Bà T4 yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất của cụ H và cụ N6 chết để lại. Bà T4 không tranh chấp cây trồng vật kiến trúc trên phần đất tranh chấp, nếu Tòa án xét xử tuyên buộc cho người nào sử dụng đất thì sử dụng vật kiến trúc và cây trồng trên đất. Bà T4 đồng ý để căn nhà, phần nhà mồ cụ N6 và cụ H để lại cho ông Xã sử dụng và thờ cúng. Bà T4 không yêu cầu giám định chữ ký dấu vân tay của cụ H tại hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng tặng cho từ cụ H cho bà Ú. Bà T4 yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng tặng cho từ cụ H qua bà Ú. Bà T4 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông N. Phần đất thửa 640 để là cấp cho hộ của cụ H, nhưng thực tế là đất của cá nhân cụ H, bà T4 không có ý kiến và tranh chấp gì đối với thành viên trong hộ.

Nay bà T4 yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng chuyển nhượng và tặng giữa cụ H với bà Ú vào năm 2001 và 2005 vô hiệu. Bà T4 không đồng ý theo yêu cầu của ông N và bà Ú; chia đều cho 9 người diện tích đất 16.000m² mà bà Ú chuyển nhượng cho bà O trong phần 16.000m²; Chia đều cho 9 người phần diện tích 10.000m², có hai ngôi nhà của ông Xã và bà Ú, giữ nguyên hiện trạng nhà cho bà Ú và ông Xã; Chia đều cho 9 người phần diện tích 18.000m² có ba ngôi nhà của ông H2, ông N và bà L, giữ nguyên hiện trạng ba căn nhà của ông H2, bà L và ông N.

+ Bà Huỳnh Thị H3, người đại diện hợp pháp là chị Bùi Thị Kim H11) trình bày:

Bà H3 yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật phần diện tích thửa 165 và thửa 640 và yêu cầu được nhận bằng giá trị đất; ngoài ra không yêu cầu gì khác.

+ Ông Nguyễn Văn Ả (Là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Huỳnh Thị L) trình bày:

Không yêu cầu gì trong vụ án này, chỉ yêu cầu được giữ nguyên căn nhà hiện nay ông Ả đang ở.

+ Anh Trần Thanh L3 (con bà L4) yêu cầu được nhận một phần thừa kế của mẹ anh và yêu cầu nhận đất để ở; ngoài ra không yêu cầu gì thêm.

- Theo tờ tự khai, đơn phản tố các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn bà Huỳnh Thị Ú trình bày:

Nguồn gốc đất của mẹ là cụ Đoàn Thị H có diện tích đất là 44.777 m², thuộc tờ bản đồ số 06, thuộc thửa 151, 163, 164, 165, 449 đất tọa lạc ấp F, xã T. Vào năm 2006, cụ H (mẹ bà) kiện bà Ú đòi lại diện tích đất 25.977m², đến năm 2012 cụ H chết, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ H khởi kiện bà Ú trả lại diện tích 25.977m², mà bà Ú tự ý lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cụ H đứng tên sang tên bà Ú.

Bà Ú không đồng ý trả lại diện tích đất 25.977 m²cho cụ H gồm các thửa 639 diện tích 16.000m² (đất tràm), thửa 163 diện tích 2.790m² (đất CDK), thửa 164 diện tích 2.387m² (đất LNK), thửa 579 diện tích 1.650m² (đất thổ), thửa 580 diện tích 3.150m² (đất CDK), tất cả các thửa đất thuộc tờ bản đồ số 06. Cụ H tặng cho quyền sử dụng đất cho bà Ú vào năm 2001 và năm 2005 là hợp pháp và bà Ú yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng (tặng cho) năm 2001 và năm 2005 giữa cụ H với bà Ú, không đồng ý hủy các hợp đồng chuyển nhượng (tặng cho) quyền sử dụng đất giữa cụ H với bà Ú.

Bà Ú yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với quyền sử dụng đất của cụ H và cụ N6 chết để lại tại thửa 640, thửa 165. Bà Ú không tranh chấp cây trồng vật kiến trúc trên phần đất tranh chấp, nếu Tòa án xét xử tuyên buộc cho người nào sử dụng đất thì sử dụng vật kiến trúc và cây trồng trên đất. Bà Ú không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông N, bà Đ. Bà Ú thống nhất phần đất khu mồ mã trên theo sơ đồ đo đạc mà Tòa án đã thẩm định để làm đất hương quả và các anh em cùng đứng tên sở hữu chung. Phần đất thửa 640 là cấp cho hộ của cụ H, nhưng thực tế là đất của cá nhân cụ H, bà Ú không có ý kiến và tranh chấp gì đối với thành viên trong hộ. Bà Ú yêu cầu chia thừa kế thửa 165 và thửa 640 cho bà nhận một phần và bà Ú yêu cầu nhận giá trị bằng tiền.

- Theo đơn yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Ngọc O, yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Xã và bà M (vợ ông Xã), bồi thường thiệt hại tiền lúa trong 10 năm, cụ thể là 1.000.000đ/1năm/1.000m² x 6.977m² x 10 năm = 69.770.000 đồng.

Buộc ông Huỳnh Văn X và bà Nguyễn Thị M bồi thường thiệt hại số tràm đã đốn (tràm đã trồng 08 năm tuổi), năm 2010 là 3.690,4m² và đến ngày 07/6/2011 đốn 2.679m², tổng cộng thiệt hại về tràm là 10.000.000đ/1.000m² x 6.369,4m² = 63.694.000 đồng.

Buộc ông Huỳnh Văn H2 phải bồi thường tiền lúa với diện tích 3.690,4m² từ năm 2010 đến năm 2018 là 08 năm: 1.000.000đ/1năm/1.000m² x 6.369,4m² x 8 năm = 29.523.200 đồng.

Ngoài ra, bà Đoàn Thị Ngọc O không yêu cầu bà Huỳnh Thị Ú và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Đoàn Thị H giao diện tích đất thửa 639 cho bà O canh tác, (hiện nay thửa đất 639 bà O đã chuyển nhượng lại cho bà Ú).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N10 - Chi nhánh huyện T:

Không có ý kiến và yêu cầu gì trong vụ án này.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T trình bày:

Không có ý kiến và xin được vắng mặt các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử của Tòa án nhân dân. Ủy ban nhân dân Huyện sẽ thực hiện kết quả giải quyết vụ kiện của Tòa án nhân dân khi có quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại quyết định bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2022/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, về việc chia thừa kế theo pháp luật của ông Huỳnh Văn N, Huỳnh Thị T3, Huỳnh Thị T4, Huỳnh Văn H2, Huỳnh Văn X, Huỳnh Thị Ú, Huỳnh Thị H3.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Đoàn Thị H, về việc yêu cầu tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng và tặng cho từ cụ Đoàn Thị H sang bà Huỳnh Thị Ú năm 2001 và 2005 là vô hiệu.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn N, bà Võ Thị Đ về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất thửa 165, thửa 640 cho ông Huỳnh Văn N và bà Võ Thị Đ.
  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn N, bà Võ Thị Đ về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 165, thửa 640 của cụ Đoàn Thị H.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn N, bà Võ Thị Đ về việc yêu cầu bà Huỳnh Thị T3, bà Huỳnh Thị Ú và ông Huỳnh Văn X bồi thường thiệt hại về tài sản.
  3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Đoàn Thị Ngọc O về việc yêu cầu ông Huỳnh Văn X, bà Nguyễn Thị M và ông Huỳnh Văn H2 bồi thường thiệt hại về tài sản.
  4. Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Thanh L3 về việc yêu cầu được chia phần đất thừa kế của mẹ anh là bà Huỳnh Thị L5 (đã chết).
  5. Chấp nhận sự tự nguyện yêu cầu cùng đứng tên đồng sở hữu chung diện tích đất 1.096m² (phần đất khu mồ mã và nhà thờ) của bà Huỳnh Thị Ú.
  6. Công nhận hợp đồng ngày 21/12/2001 giữa cụ Đoàn Thị H và chị Huỳnh Thị Ú, tại thửa 579 (tách từ thửa 164), diện tích 1.650m² (đất thổ), thửa 580 (tách từ thửa 163), diện tích 3.150m² (CDK). Hợp đồng ngày 13/01/2005 giữa cụ Đoàn Thị H và bà Huỳnh Thị Ú, tại thửa 163, diện tích 2.790m² (CDK), thửa 164, diện tích 2.387m² (LN), thửa 639 (tách từ thửa 151), diện tích 16.000m² (RTlg); là có hiệu lực pháp luật.
  7. Phần di sản thừa kế mỗi người được hưởng thừa kế có diện tích trong phạm vi các mốc, cụ thể như sau:

10.1. Ông Huỳnh Văn N được hưởng di sản thừa kế tổng cộng diện tích đất 3.432,6m². Theo đó, ông Huỳnh Văn N được diện tích 1.000m², trong phạm vi các mốc M1- mốc M3- mốc M18- mốc M17- mốc M16- mốc M15- mốc M12- mốc M14- mốc M1 (thuộc một phần thửa 165); diện tích 1.026,1m², trong phạm vi các mốc M15- mốc M8- mốc M9- mốc M12- mốc M15 (thuộc một phần thửa 165); diện tích 500,7m², trong phạm vi các mốc M21- mốc M22 – mốc M23- mốc M24- mốc M35- mốc M34- mốc M33- mốc M32- mốc M31- mốc M21 (thuộc một phần thửa 640); diện tích 905,8m², trong phạm vi các mốc M26- mốc M27- mốc M34- mốc M35- mốc M26 (thuộc một phần thửa 640); đất tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

10.2 Ông Huỳnh Văn H2 được hưởng di sản thừa kế diện tích đất 1.931,9m². Theo đó, ông Huỳnh Văn H2 được diện tích 1.026m², trong phạm vi

các mốc M15- mốc M16- mốc M7- mốc M8- mốc M15 (thuộc một phần thửa 165); diện tích 905,9m², trong phạm vi các mốc M27- mốc M28- mốc M33- mốc M34- mốc M27 (thuộc một phần thửa 640); đất tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

10.3 Ông Huỳnh Văn X được hưởng di sản thừa kế diện tích đất 1.932,4m². Theo đó, ông Huỳnh Văn X được diện tích 1.026,3m², trong phạm vi các mốc M12- mốc M11- mốc M10- mốc M9- mốc M12 (thuộc một phần thửa 165); diện tích 906,1m², trong phạm vi các mốc M25- mốc M26- mốc M35- mốc M24- mốc M25 (thuộc một phần thửa 640); đất tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

10.4 Bà Huỳnh Thị T3 được hưởng di sản thừa kế diện tích đất 1.931m². Theo đó, bà Huỳnh Thị T3 được diện tích 1.026m², trong phạm vi các mốc M16- mốc M17- mốc M6- mốc M7- mốc M16 (thuộc một phần thửa 165); diện tích 905m², trong phạm vi các mốc M28- mốc M29- mốc M32- mốc M33- mốc M28 (thuộc một phần thửa 640); đất tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

10.5 Bà Huỳnh Thị T4 được hưởng di sản thừa kế diện tích đất 1.931,6m². Theo đó, bà Huỳnh Thị T4 được diện tích 1.026m², trong phạm vi các mốc M17- mốc M18- mốc M5- mốc M6- mốc M17 (thuộc một phần thửa 165); diện tích 905,6m², trong phạm vi các mốc M29- mốc M30- mốc M31- mốc M32- mốc M29 (thuộc một phần thửa 640); đất tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

10.6 Anh Trần Thanh L3 được hưởng di sản thừa kế diện tích đất 1.931,3m². Theo đó, anh Trần Thanh L3 được diện tích 1.025,9m²trong phạm vi các mốc M18- mốc M3- mốc M4- mốc M5- mốc M18 (thuộc một phần thửa 165); diện tích 905,4m², trong phạm vi các mốc M30- mốc M19- mốc M21- mốc M31- mốc M30 (thuộc một phần thửa 640); đất tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

10.7 Bà Huỳnh Thị H3 được hưởng di sản thừa kế diện tích đất 1.931m². Theo đó, bà Huỳnh Thị H3 được nhận giá trị bằng tiền tại thửa 165, diện tích 1.026m²x 500.000đ/m² = 513.000.000 đồng; giá trị bằng tiền tại thửa 640 diện tích 905m² x 500.000đ/m² = 452.500.000 đồng; tổng cộng 513.000.000 đồng + 452.500.000 đồng = 965.500.000 đồng (Chín trăm sáu mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng).

10.8 Chị Huỳnh Thị Ú được hưởng di sản thừa kế diện tích đất 1.931m². Theo đó, chị Huỳnh Thị Ú được nhận giá trị bằng tiền tại thửa 165, diện tích 1.026m² x 500.000đ/m² = 513.000.000 đồng; giá trị bằng tiền tại thửa 640 diện tích 905m² x 500.000đ/m² = 452.500.000 đồng; tổng cộng 513.000.000 đồng + 452.500.000 đồng = 965.500.000 đồng (Chín trăm sáu mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng).

  1. Ông Huỳnh Văn N, bà Huỳnh Thị T3, ông Huỳnh Văn X, bà Huỳnh Thị T4, ông Huỳnh Văn H2, bà Huỳnh Thị H3, bà Huỳnh Thị Ú; cùng đồng sỡ hữu chung và cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đối với diện tích đất khu mồ mã và nhà thờ có diện tích 1.096m², thuộc một phần thửa164, 579, 580, 163,trong phạm vi các mốc R2- mốc M8- mốc M7- mốc R4- mốc M5- mốc M4- mốc- M3- mốc R5- mốc M1 –mốc R1- mốc R2; đất tọa lạc ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Buộc ông Huỳnh Văn N, Huỳnh Thị T3, Huỳnh Văn X, Huỳnh Thị T4, Huỳnh Văn H2, Trần Thanh L3 có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Thị Ú, bà Huỳnh Thị H3 số tiền mỗi người là 965.500.000 đồng.
  3. Buộc ông Huỳnh Văn X và bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại tiền lúa trong 10 năm, cụ thể là 1.000.000đ/1năm/1.000m² x 6.977m² x 10 năm = 69.770.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) cho bà Đoàn Thị Ngọc O.
  4. Buộc ông Huỳnh Văn X và bà Nguyễn Thị M phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại số tràm đã đốn (tràm đã trồng 08 năm tuổi), năm 2010 là 3.690,4m² và đến ngày 07/6/2011 đốn 2.679m², tổng cộng thiệt hại về tràm là 10.000.000đ/1.000m² x 6.369,4m² = 63.694.000 đồng (Sáu mươi ba triệu sáu trăm chín mươi bốn nghìn đồng) cho bà Đoàn Thị Ngọc O.
  5. Buộc ông Huỳnh Văn H2 phải có nghĩa vụ bồi thường tiền lúa với diện tích 3.690,4m² từ năm 2010 đến năm 2018 là 08 năm: 1.000.000đ/1năm/1.000m² x 3.690m² x 8 năm = 29.523.200 đồng (Hai mươi chín triệu năm trăm hai mươi ba nghìn hai trăm đồng) cho bà Đoàn Thị Ngọc O.
  6. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, thì hàng tháng còn phải chịu lãi tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.
  7. Ông Huỳnh Văn N, Huỳnh Thị T3, Huỳnh Văn X, Huỳnh Thị T4, Huỳnh Văn H2, Huỳnh Thị H3, Huỳnh Thị Ú có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký để được đứng tên đồng sở hữu chung trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất khu mồ mã và nhà thờ có diện tích 1.096m², thuộc một phần thửa 164, 579, 580, 163, trong phạm vi các mốc R2- mốc M8- mốc M7- mốc R4- mốc M5- mốc M4- mốc- M3- mốc R5- mốc M1 –mốc R1- mốc R2; đất tọa lạc ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  8. Chị Huỳnh Thị Ú được tiếp tục sử dụng, quản lý diện tích đất còn lại đối với các thửa đất 164, 579, 580, 163 và chị Huỳnh Thị Ú được quyền đến cơ

quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, điều chỉnh để được đứng tên đối với các thửa đất trên.

  1. Ông Huỳnh Văn N, Huỳnh Thị T3, Huỳnh Văn X, Huỳnh Thị T4, Huỳnh Văn H2, Trần Thanh L3; có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký để được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mà ông Huỳnh Văn N, Huỳnh Thị T3, Huỳnh Văn X, Huỳnh Thị T4, Huỳnh Văn H2, Trần Thanh L3; được chia thừa kế quyền sử dụng đất. Đất tọa lạc ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, ngày 28/6/2018 của Tòa án, Sơ đồ đo đạc ngày 20/02/2009 và Phụ lục mãnh trích đo ngày 01/11/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện T; Phụ lục trích đo ngày 12/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T;Mãnh trích đo địa chính ngày 27/7/2018 của Công ty B2; Phụ lục sửa đổi, bổ sung mãnh trích đo ngày 12/9/2022 của Công ty B2).

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

20.1 Bà Huỳnh Thị Ú phải chịu 40.965.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006440, ngày 26/8/2020; số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.797.000 đồng theo biên lai thu số 0000476, ngày 07/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Bà Huỳnh Thị Ú còn phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 37.868.000 đồng.

20.2. Anh Trần Thanh L3 phải chịu 40.969.500 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 990.000 đồng theo biên lai thu số 0000477, ngày 07/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Anh Trần Thanh L3 còn phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 39.979.500 đồng.

20.3 Bà Huỳnh Thị T4 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà T4 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 6.971.000 đồng theo biên lai thu số 0000425, ngày 27/4/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

20.4 Ông Huỳnh Văn X phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 40.986.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 7.261.000 đồng theo biên lai thu số 0000456, ngày 04/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Ông Huỳnh Văn X còn phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 33.725.000 đồng.

20.5 Ông Huỳnh Văn N, bà Võ Thị Đ không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông N được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 7.206.000 đồng theo biên lai thu số 01676, ngày 27/11/2017; số tiền 734.000 đồng theo biên lai thu số 0000044, ngày 24/7/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

20.6 Ông Huỳnh Văn N, bà Huỳnh Thị T3, bà Huỳnh Thị T4, ông Huỳnh Văn H2, ông Huỳnh Văn X, bà Huỳnh Thị Ú, bà Huỳnh Thị H3 là những người thừa kế của cụ Đoàn Thị H được nhận lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 9.930.000 đồng, theo biên lai thu số 002553, ngày 18 tháng 7 năm 2008 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, (do bà Huỳnh Thị H3 đại diện nhận số tiền trên, sau đó bà H3 giao lại cho ông Huỳnh Văn N, bà Huỳnh Thị T3, bà Huỳnh Thị T4, ông Huỳnh Văn H2, ông Huỳnh Văn X, bà Huỳnh Thị Ú mỗi người nhận 1.418.000 đồng).

20.7. Bà Đoàn Thị Ngọc O không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.400.000 đồng theo biên lai thu số 002661, ngày 20/8/2008; được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.494.000 đồng theo biên lai thu số 001836, ngày 31/5/2012, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

20.8. Bà Huỳnh Thị T3 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm (do là người cao tuổi).

20.9. Ông Huỳnh Văn H2 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm (do là người cao tuổi).

  1. Về án phí phúc thẩm:

21.1 Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông N, bà Đ và ông H2.

21.2 Ông Xã phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm của ông Xã là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008052 ngày 28/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, được trừ vào tiền án phí.

21. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ: Ông Huỳnh Văn N, Huỳnh Thị T3, Huỳnh Văn X, Huỳnh Thị T4, Huỳnh Văn H2, Trần Thanh L3 mỗi người phải chịu 1.631.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chổ; nhưng do ông N đã tạm ứng 7.420.000 đồng và ông Huỳnh Văn H2 đã nộp tạm ứng 4.000.000 đồng (đã thanh lý xong). Cho nên,bà Huỳnh Thị T3, Huỳnh Văn X, Huỳnh Thị T4, Trần Thanh L6 người phải nộp lại số tiền1.631.000 đồng chi phí xem xét thẩm

định tại chổ để trả lại cho ông Huỳnh Văn N số tiền 5.789.000 đồng, ông Huỳnh Văn H2 số tiền 2.369.000 đồng.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND huyện Tháp Mười;
  • - CCTHADS huyện Tháp Mười;
  • - Phòng KTNV-THA TA Tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án (T).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Tấn Tặng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2024/DS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về thừa kế quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại về tài sản

  • Số bản án: 199/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về thừa kế quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại về tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ý án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger