Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 199/2024/HS-ST

Ngày 19-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Ông Vũ Khắc Tân

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường- Thư ký Toà án nhân dân quận

Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông

Trần Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 193/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 780/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Trung Q, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1984 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú: Số D Đà Nẵng, TDP Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: GH83 Khu C, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trung T và bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ con; tiền án: 01 tiền án: Bản án số 40/2008/HSST ngày 03/4/2008 Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cưỡng đoạt tài sản (chưa được xóa án tích); nhân thân: Bản án số 20/2012/HSST ngày 25/5/2012 Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh xử phạt 16 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa); bị tạm giữ ngày 05/3/2024; tạm giam ngày 11/3/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 05/3/2024 Phạm Trung Q điều khiển xe mô tô Exciter, biển kiểm soát 15B2-402.65 tới khu vực đường T, quận L, Hải Phòng để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây Q gặp một người nam giới điều khiển xe mô tô (không rõ biển kiểm soát). Người này hỏi Q: “Lấy hàng không, tao có chỗ lấy rẻ tao đang thiếu tiền cho tao hai chục?”. Q hiểu ý và điều khiển xe mô tô đi theo người nam giới tới khu vực đường N, L, L, Hải Phòng. Nam giới rẽ vào trong một ngõ nhỏ trên đường N được khoảng 50m thì dừng xe và bảo Q: “Đưa tiền cho tao đi lấy”. Q đưa cho nam giới 220.000 đồng. Nam giới cầm tiền của Q đi sâu vào trong ngõ, một lúc sau quay lại đưa cho Q 01 túi nilon mép viền đỏ bên trong có chất bột màu trắng. Q biết đây là ma túy Heroine Q1 cần mua nên đã cất giấu vào trong túi quần phía trước bên trái Q1 đang mặc rồi điều khiển xe đến khu vực ngã ba đường N và đường T thì bị lực lượng công an kiểm tra thu giữ tang vật là 01 túi nilon mép viền đỏ bên trong có chất bột màu trắng; 01 xe Exciter biển kiểm soát 15B2-402.65 và số tiền 200.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 250/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: chất bột màu trắng bên trong túi nilon màu trắng thu giữ của Phạm Trung Q là ma túy, có khối lượng 0,21 gam, là loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số 207/CT-VKS ngày 26/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Phạm Trung Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với nam giới mua ma túy hộ Phạm Trung Q, bị cáo khai không biết lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở điều tra, làm rõ.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Trung Q mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định; tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 xe Exciter biển kiểm soát 15B2-402.65 là tài sản riêng

3

của bị cáo là công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội; trả lại bị cáo số tiền 200.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy:

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 10 giờ 50 phút, ngày 05/3/2024, Phạm Trung Q có hành vi cất giữ trái phép 0,21gam Heroin, mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị bắt quả tang tại khu vực ngã ba đường N và T, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng. Hành vi của bị cáo bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tiền án trong đó có 01 tiền án chưa được xóa: Bản án số 40/2008/HSST ngày 03/4/2008 Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cưỡng đoạt tài sản. Do vậy, lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

4

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà gia đình bị cáo xuất trình chứng cứ chứng minh có thân nhân (bố đẻ) là người có công với cách mạng là thương binh hạng 4/4 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy tội phạm bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, ý thức chấp hành pháp luật kém, do vậy cần có hình phạt nghiêm, xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, các điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 01 phong bì niêm phong số 250MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe Exciter BKS: 15B2-402.65 là công cụ, phương tiện phạm tội; trả lại bị cáo số tiền 200.000₫ là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố: Phạm Trung Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phạm Trung Q 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 3 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số ma tuý và vỏ bao bì còn lại sau giám định số

5

250MT/PC09; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe máy BKS: 15B2-402.65 nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng đỏ đã qua sử dụng, xe không có gương chiếu hậu (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân); trả lại bị cáo số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí (theo Uỷ nhiệm chi số 61.2024/QĐ-CALC (HTTP) lập ngày 28/8/2024 tại Kho bạc Nhà nước quận L).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Công an quận Lê Chân;
  • - Phòng PV06; PC10;
  • - THA hình sự;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 199/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Trung Q Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger