|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 199/2024/HSST Ngày: 17/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Minh Hòa
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Ngọc Đông
- Ông Nguyễn Ron
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Trần Thị Thoa là Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thanh Trang – Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 189/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN HOÀNG NGUYÊN, tên gọi khác: Không, sinh ngày
16/8/2001 tại huyện T, tỉnh Bình Định; Nơi thường trú: thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, Nơi cư trú: không có nơi cư trú nhất định; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Tên cha: Không rõ, tên mẹ: Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1967; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị bắt truy nã, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Q, có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Anh T1, sinh năm: 1968; Trú tại: Tổ A, khu V, phường T, Tp ., tỉnh Bình Định; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1976; trú tại: H D, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2
- Ông Vũ Ngọc V, sinh năm 1988; trú tại: D N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Quang M, sinh năm 1992; trú tại: D L, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Lê Ngọc A, sinh năm 1985; trú tại: 1 H, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06h00' ngày 23/11/2023, Nguyễn Hoàng N liên hệ hỏi thuê xe mô tô của ông Nguyễn Anh T1 qua mạng xã hội Zalo. N nói với ông T1 quê Nguyên ở xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, Căn cước công dân, Giấy phép lái xe của N đã bị mất, chỉ còn ảnh chụp Căn cước công dân và Thông báo định danh cá nhân rồi gửi qua Zalo cho ông T1. Ông T1 tin tưởng, đồng ý cho N thuê xe, N hẹn nhận xe trước quán cà phê “ATANI” tại số A N, P. N, TP ..
Khoảng 08h00' cùng ngày, ông T1 đi cùng Lê Ngọc A mang xe mô tô biển số: 77L1-549.30 đến trước quán cà phê “ATANI” gặp N. Tại đây, N với ông T1 thỏa thuận thuê xe là 150.000 đồng/ngày, thuê ngày nào thanh toán tiền ngày đó và nếu thuê thêm thì N sẽ nhắn tin với ông T1. N đã trả cho ông T1 số tiền 1.350.000 đồng tương ứng với 09 ngày thuê xe.
N sử dụng xe đến ngày 30/11/2023 thì nảy sinh ý định cầm cố xe để lấy tiền tiêu xài. Nguyên liên hệ với Vũ Ngọc V nói muốn cầm cố xe mô tô 77L1-549.30 nhưng V không nhận cầm cố và giới thiệu Trần Quang M với N. Khoảng 20h ngày 30/11/2023, V dẫn N đến gặp M để cầm cố xe mô tô 77L1-549.30. Tại nhà M, N nói dối là xe mô tô của bạn Nguyên do cần tiền tiêu xài nên nhờ N cầm giúp, giấy tờ xe người nhà của bạn N đang giữ, cam đoan về nguồn gốc xe với M. Nguyên giả vờ gọi điện thoại cho bạn đến rồi nói lại với M là bạn N đang làm nên không đến được. Thấy vậy, M đồng ý nhận cầm cố xe mô tô 77L1-549.30 với giá 3.000.000 đồng, M lấy trước tiền lãi 400.000 đồng còn đưa cho N 2.600.000 đồng. Nguyên viết giấy mượn tiền với nội dung nếu trong thời hạn 10 ngày, N không quay lại trả tiền thì M có quyền bán xe cho người khác. Đến ngày 10/12/2023, N trốn tránh, không quay lại lấy xe, trả tiền cho M như đã thoả thuận nên ngày 25/12/2023, M bán lại xe mô tô 77L1-549.30 cho Nguyễn Ngọc C với giá 6.000.000 đồng.
Ông T1 liên lạc để lấy xe về thì N trốn tránh, viện nhiều lý do rồi cắt đứt liên lạc. Ngày 30/12/2023, ông T1 tìm thì thấy C đang giữ và sử dụng xe mô tô
3
77L1-549.30 nên trình báo Công an P Sau khi thực hiện hành vi phạm tội. N đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngày 17/01/2024, Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự TP . kết luận: 01 xe mô tô biển số: 77L1-549.30, nhãn hiệu: Honda, loại: Air B, màu sơn: Trắng xám, số máy: JF46E6053156, số khung: RLHJF4612EZ127880, đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 30/11/2023 có giá trị là 18.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT Công an T đã tạm giữ và trả lại: 01 xe mô tô biển số 77L1-549.30, hiệu Honda, loại Air Blade, màu trắng xám, số máy: JF46E6053156, số khung: RLHJF4612EZ127880.
Về dân sự: Bị hại Nguyễn Anh T1 yêu cầu Nguyễn Hoàng N bồi thường số tiền 1.000.000 đồng mất thu nhập nhưng N chưa bồi thường, tại phiên toà ông T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nữa, ông Nguyễn Ngọc C không yêu cầu bồi thường dân sự.
Bản Cáo trạng số 197/CT – VKSQN ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố Nguyễn Hoàng N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Hoàng N có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, ngày 23/11/2023, N thuê xe mô tô 77L1-549.30 trị giá 18.000.000 đồng của ông Nguyễn Anh T1 để sử dụng. Tuy nhiên, đến ngày 30/11/2023, vì muốn có tiền tiêu xài nên N đã mang xe mô tô 77L1-549.30 cầm cố cho Trần Quang M với giá 3.000.000 đồng. Sau khi cầm cố xe mô tô 77L1-549.30 cho M, N vẫn nói dối ông T1 là đang sử dụng xe và sau đó cố tình trốn tránh nhằm chiếm đoạt tài sản của ông T1 nên Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có các tình tiết giảm nhẹ: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội thành khẩn khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Đề nghị truy thu 2.600.000 đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo sung công quỹ Nhà nước. Về Dân sự: bị hại, người liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
- Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Hoàng N có đầy đủ sức khỏe, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo biết rõ tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, nhưng bị cáo đã có hành vi thuê 01 xe mô tô, biển số 77L1-549.30 trị giá 18.000.000 đồng của ông Nguyễn Anh T1 để sử dụng. Sau đó vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã mang xe mô tô của ông T1 đi cầm cố cho Trần Quang M với giá 3.000.000 đồng, bị cáo vẫn nói dối với ông T1 là đang sử dụng xe, sau đó thì trốn tránh nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS.
[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phương, nên phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, HĐXX thấy rằng: bị cáo không có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội, bị cáo khai báo thành khẩn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét xử phạt bị cáo một mức án phù hợp của khung hình phạt vừa bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa tội phạm, vừa đảm bảo mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
[3] Về bồi thường thiệt hại: Tại cơ quan điều tra, bị hại ông Nguyễn Anh T1 yêu cầu bị cáo bồi thường 1.000.000 đồng tiền chi phí sửa chữa xe bị hư
5
hỏng và tiền bị mất thu nhập do bị cáo chiếm đoạt xe của ông. Tại phiên toà, ông T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nữa. Xét đây là sự tự nguyện của bị hại nên HĐXX chấp nhận. Bị hại và người liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[4] Bị cáo cầm cố xe của ông T1 thu lợi bất chính 2.600.000 đồng nên số tiền này cần phải tịch thu, sung công quỹ Nhà nước.
[5] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với các hành vi Vũ Ngọc V giới thiệu Nguyễn Hoàng N cầm cố xe mô tô 77L1-549.30 cho Trần Quang M, Trần Quang M nhận cầm cố xe mô tô 77L1-549.30 từ Nguyễn Hoàng N, Nguyễn Ngọc C mua lại xe mô tô 77L1-549.30 từ M. Xét thấy Vũ Ngọc V, Trần Quang M, Nguyễn Ngọc C không biết xe mô tô này do Nguyễn Hoàng N chiếm đoạt của Nguyễn Anh T1 mà có, cũng không hứa hẹn, bàn bạc, xúi giục, giúp sức cùng N chiếm đoạt xe của anh T1 nên Vũ Ngọc V, Trần Quang M, Nguyễn Ngọc C không đồng phạm với Nguyễn Hoàng N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự, cũng không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi của Trần Quang M nhận cầm cố cho vay với lãi suất 486%/năm nhưng số tiền M thu lợi bất chính chỉ 383.000 đồng (dưới 30.000.000 đồng) nên Cơ quan CSĐT Công an T không xử lý hình sự đối với Trần Quang M về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND thành phố Quy Nhơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
6
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 07/5/2024.
- Truy thu 2.600.000 đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo nộp ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/9/2024). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Phạm Ngọc Đông | Văn Thị Minh Hòa |
| Nguyễn Ron |
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà
|
Văn Thị Minh Hoà |
Bản án số 199/2024/HSST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 199/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo thuê xe máy, sau đó cầm cố rồi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản
