Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 199/2024/HS-ST

Ngày 15/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Tuyết Nhung

2. Ông Trần Văn Nghị

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 176/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Y VI LEM ÊBAN.

Sinh ngày 21 tháng 12 năm 2000, tại: Tỉnh Đắk Lắk.

Hộ khẩu thường trú: Buôn K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú rõ ràng.

Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Ê đê; Tôn giáo: Tin lành;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Y Nguôn B, sinh năm 1976, Con bà: H’Rút ÊBan, sinh năm 1976. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: 01 tiền án. Ngày 16/8/2021, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét sử tuyên phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 221/2021/HSSST). Ngày 24/5/2022 chấp hành xong hình phạt.

Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 06/4/2024 cho đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: HOÀNG THẾ VĂN.

Sinh ngày 29 tháng 4 năm 1987, tại: Tỉnh Đắk Lắk.

Hộ khẩu thường trú: Thôn G, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú rõ ràng.

Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông: Hoàng Thế M (đã chết), Con bà: Nguyễn Thị T (đã chết). Bị cáo có vợ là Lục Thị B1, sinh năm 1995 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 27/11/2014, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xét xử tuyên phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 62/HSST)

Ngày 17/3/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, tổng hợp hình phạt bản án số 62/2014/HSST buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 03 năm tù giam (bản án số 81/2015/HSPT). Chấp hành án tại Trại giam Đ. Ngày 30/01/2017 chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 03/4/2024 cho đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Trần Anh T1 - Sinh năm 1970 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số C đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Bùi Thị Mỹ P – Sinh năm: 1993 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bà H' Rút ÊBan - Sinh năm 1976 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Buôn K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Y Vi L ÊBan và Hoàng Thế V đã thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vào khoảng 07 giờ ngày 02 ngày 4 tháng 2024, Y Vi L ÊBan điều khiển xe mô tô kiểu dáng xe Sirius, màu đen (Không rõ biển số, số khung và số máy) chở Hoàng Thế V ngồi phía sau lưu thông trên các tuyến đường trong các khu rẫy thuộc địa bàn xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, quan sát, tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến ngôi nhà rẫy, xây cấp 4 tại địa chỉ: Lô A, tiểu khu A, thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, của gia đình ông Trần Anh T1, Y Vi L thấy cửa chính bằng kim loại màu xanh, trên cửa khóa bằng 02 ổ khóa bằng kim loại, không có người trông coi thì Y ViLem dừng xe lại và nói Văn đúng ngoài cảnh giới, Y Vi L đi đến cửa trước cầm 01 cây gỗ, màu nâu, dài 1,5 mét đập nhiều cái làm bụng ổ khóa bằng kim loại, màu xám, trên thân khóa có in kí tự “HARDENED SOUABE CICLE” rớt xuống nền nhà, nhặt ổ khóa ném ra nền đất rồi tiếp tục dùng cây đập nhiều cái vào ổ khóa phía bên dưới nhưng không được nên Y Vi L đi ra cửa sổ bên hông ngôi nhà lấy 01 cây gỗ, màu nâu, kích thước (0,45x1,15 )m, dày 02 ly, rồi kéo cong khung kim loại lên tạo 01 lỗ hổng lớn, chui vào trong nhà. Sau đó, Y Vi L ra mở cửa bên hông nhà ra, nói Văn dắt xe đến dựng gần cửa để chở tiêu chuẩn bị trộm cắp được thì V đồng ý. Tại đây, Y Vi L kéo từ trong nhà ra 02 bao tải (loại bao xác rắn), màu trắng, kích thước (110x60) cm, trên thân bao có in các kí tự 1041S màu đỏ, bên trong chứa 95,4kg tiêu khô để trước cửa cùng Văn khiêng lên xe rồi Y Vi L điều khiển xe mô tô trên chở V cùng 02 bao tiêu trộm cắp được đến bán tiệm thu mua nông sản của bà Bùi Thị Mỹ P, được số tiền 9.015.000 đồng. Sau khi nhận được tiền bán tiêu trộm cắp, Y Vi L chở V đi đến khu vực Buôn K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Y ViLem chia cho V 4.500.000 đồng, Y Vi L 4.515.000 đồng, cả hai tiêu xài cá nhân hết.

Kết luận định giá tài sản số 100/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 95,4kg tiêu khô dựng trong 02 bao tải bao tải (loại bao xác rắn), màu trắng, kích thước (110x60)cm, trên thân bao có in các kí tự 1041S màu đỏ (tài sản thu hồi được), tại thời điểm ngày 02/4/2024, trị giá: 9.015.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 101/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: Tại thời điểm ngày 02/4/2024, 01 tấm kính nâu, kích thước (0,45x1,15)m =0,5175 m², dày 02 ly, đã qua sử dụng, trị giá: 79.000 đồng; 01 ổ khóa bằng kim loại, màu xám, trên thân khóa có in kí tự “HARDENED SOUABE CICLE”, đã qua sử dụng, trị giá: 20.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại là 99.000 đồng.

Cáo trạng số 188/CT-VKS-HS ngày 14/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Y Vi L ÊBan, Hoàng Thế V về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo Y Vi L ÊBan, Hoàng Thế V thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đúng theo nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Y Vi L ÊBan, Hoàng Thế V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Y Vi L ÊBan từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thế V từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù.

3

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 95,4kg tiêu khô được đựng trong 02 bao tải (loại bao xác rắn), màu trắng, kích thước (110x60)cm, trên thân bao có in các kí tự 10418 màu đỏ; 01 cây gỗ, màu nâu, dài 1,5 mét; 01 cây gỗ, màu nâu, dài 02 mét; 01 ổ khóa bằng kim loại bị gãy rời (thân khóa và chốt khóa), màu xám, trên thân khóa có in kí tự “HARDENED SOUABE CICLE”; 10 mảnh kính, màu nâu, dày 02 ly, nhiều kích thước khác nhau, đã qua sử dụng là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Trần Anh T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả 02 bao tiêu, 02 cây gỗ, 01 ổ khóa, 10 mảnh kính có đặc điểm nêu trên cho ông T1 là người bị hại, chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu xanh, số Imei: 865194053461211, đã qua sử dụng là tài sản của Hoàng Thế V không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi nhận lại tài sản, ông Trần Anh T1 không yêu cầu các bị cáo Y Vi L ÊBan, Hoàng Thế V phải bồi thường gì thêm.

Bà H'Rut Ê (là mẹ đẻ của bị cáo Y Vi L) đã tự nguyện bồi thường cho ông Trần Anh T1 số tiền 300.000 đồng tiền thay thế, sửa chữa ổ khóa, kính bị thiệt hại. Ông T1 đã nhận tiền và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác.

Buộc các bị cáo Y Vi Lem Ê1, Hoàng Thế V phải bồi thường cho chị Bùi Thị Mỹ P số tiền 9.015.000 đồng.

Các nội dung khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Thế V, Y Vi L ÊBan Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo, là phù hợp.

Đối với hành vi Hoàng Thế V, Y Vi L ÊBan còn có hành vi cố ý làm hư hỏng 01 tấm kính và 01 ổ khóa có đặc điểm nêu trên, với tổng trị giá: 99.000 đồng (Chín mươi chín ngàn đồng) của ông Trần Anh T1. Quá trình điều tra, xác định các Hoàng Thế V, Y Vi L chưa có tiền án, tiền sự về tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, quy định tại điều 178 Bộ luật Hình sự nên hành vi trên của các bị cáo không cấu thành tội phạm mà cấu thành vi phạm hành chính. Do đó, Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, bằng hình thức Phạt tiền 4.000.000 đồng/người, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.

Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng xe Sirius, màu đen (không rõ biển số, số khung, số máy), Y Vi L sử dụng làm phương tiện phạm tội. Bị cáo Y Vi L mượn của 01 nam thanh niên tên K (là bạn của Y Vi L, không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Y Vi L đã trả lại chiếc xe mô tô có đặc điểm nêu trên cho K. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của K và chưa tạm giữ được chiếc xe mô tô nêu trên nên tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

4

lịch của K và chưa tạm giữ được chiếc xe mô tô nêu trên nên tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và không bào chữa cho mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác nên vào ngày 02/4/2024, tại Lô A, tiểu khu A, thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, các bị cáo Y Vi L ÊBan, Hoàng Thế V đã trộm cắp tài sản của ông Trần Anh T1 02 bao tiêu nặng 95,4kg có giá trị 9.015.000 đồng

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm bất hợp pháp đối với quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Các bị cáo có đủ năng lực hành vi dân sự để nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam tư lợi, lười biếng lao động, coi thường pháp luật nên các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo Y Vi L ÊBan, Hoàng Thế V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

5

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã thu hồi toàn bộ trả lại cho người bị hại. Bị cáo Y Vi L ÊBan là người dân tộc, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Y Vi L ÊBan đã bồi thường cho bị hại. Do đó bị cáo Y Vi L ÊBan được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo Hoàng Thế V được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 16/8/2021, bị cáo Y Vi L ÊBan bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử tuyên phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 221/2021/HSSST), ngày 24/5/2022 chấp hành xong hình phạt. Ngày 02/4/2024, Y Vi L ÊBan thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Phân hóa tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo Y Vi L ÊBan có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích thì tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo Y Vi L ÊBan là người trực tiếp dùng cây phá ổ khoá và chui vào nhà để lấy trộm 02 bao tiêu mang ra ngoài đi tiêu thụ.

Bị cáo Hoàng Thế V tham gia với vai trò đứng cảnh giới bên ngoài cho bị cáo Y Vi L ÊBan thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Hoàng Thế V có nhân thân xấu, ngày 27/11/2014, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xét xử tuyên phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, ngày 17/3/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Sau khi chấp hành xong hình phạt quay trở về địa phương sinh sống, bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật.

Do đó khi xem xét lượng hình thì hình phạt của bị cáo Y Vi L ÊBan phải cao hơn bị cáo Hoàng Thế V là phù hợp.

[5] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả 95,4kg tiêu khô được đựng trong 02 bao tải (loại bao xác rắn), màu trắng, kích thước (110x60)cm, trên thân bao có in các kí tự 1041S màu đỏ; 01 cây gỗ, màu nâu, dài 1,5 mét; 01 cây gỗ, màu nâu, dài 02 mét; 01 ổ khóa bằng kim loại bị gãy rời (thân khóa và chốt khóa), màu xám, trên thân khóa có in kí tự “HARDENED SOUABE CICLE”; 10 mảnh kính, màu nâu, dày 02 ly, nhiều kích thước khác nhau, đã qua sử dụng cho ông Trần Anh T1 là chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng, là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

6

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu xanh, số Imei: 865194053461211, đã qua sử dụng là tài sản của Hoàng Thế V không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi nhận lại tài sản và nhận 300.000 đồng bồi thường thiệt hại từ bà H Rut ÊBan, ông Trần Anh T1 không yêu cầu các bị cáo Y Vi L ÊBan, Hoàng Thế V phải bồi thường gì thêm.

Bùi Thị Mỹ P yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 9.015.000 đồng là tiền bà đã đưa cho các bị cáo để mua 02 bao tiêu 94,5kg, là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

[7] Về các nội dung khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Thế V, Y Vi L ÊBan Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo, là phù hợp.

Đối với hành vi Hoàng Thế V, Y Vi L ÊBan còn có hành vi cố ý làm hư hỏng 01 tấm kính và 01 ổ khóa có đặc điểm nêu trên, với tổng trị giá: 99.000 đồng (Chín mươi chín ngàn đồng) của ông Trần Anh T1. Quá trình điều tra, xác định các Hoàng Thế V, Y Vi L chưa có tiền án, tiền sự về tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, quy định tại điều 178 Bộ luật Hình sự nên hành vi trên của các bị cáo không cấu thành tội phạm mà cấu thành vi phạm hành chính. Do đó, Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, bằng hình thức Phạt tiền 4.000.000 đồng/người, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.

Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng xe Sirius, màu đen (không rõ biển số, số khung, số máy), Y Vi L sử dụng làm phương tiện phạm tội. Bị cáo Y Vi L mượn của 01 nam thanh niên tên K (là bạn của Y Vi L, không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Y Vi L đã trả lại chiếc xe mô tô có đặc điểm nêu trên cho K. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của K và chưa tạm giữ được chiếc xe mô tô nêu trên nên tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Các bị cáo Y Vi L ÊBan, Hoàng Thế V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Y Vi L ÊBan, Hoàng Thế V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Y Vi L ÊBan 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/4/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thế V 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 03/4/2024.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Về xử lý vật chứng:

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả 02 bao tiêu, 02 cây gỗ, 01 ổ khóa, 10 mảnh kính có đặc điểm nêu trên cho ông Trần Anh T1 là chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng, là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Tịch thu 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu xanh, Imei: 865194053461211, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Hoàng Thế V để đảm bảo công tác thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/6/2024 giữa Công an thành phố B và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).

Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận việc bị cáo Y Vi L ÊBan đã bồi thường cho ông Trần Anh T1 số tiền 300.000 đồng, ông Trần Anh T1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Buộc bị cáo Y Vi L Êban phải bồi thường cho bà Bùi Thị Mỹ P số tiền 4.515.000 đồng.

Buộc bị cáo Hoàng Thế V phải bồi thường cho bà Bùi Thị Mỹ P số tiềng 4.500.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Y Vi L ÊBan, Hoàng Thế V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1-TANDTC;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - Công an thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • - Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 199/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y V L VÀ ĐỘNG BỌN PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger