|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA Bản án số: 199/2024/HS - ST Ngày 10 - 7 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung.
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Lò Văn Chung.
- 2. Ông Nguyễn Văn Cường.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 202/2024/HSST ngày 07 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2024/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tòng Văn D - Sinh năm 1969; Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Tòng Văn M1 (đã chết) và bà Lò Thị S (đã chết); Bị cáo có vợ là Tòng Thị H và có 02 con (con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1994); Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 02 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, tại bản án số 84/HSST ngày 12/4/2004.
- + Bị Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Sơn La xử phạt 20 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. tại bản án số 76/2017/HSST ngày 21/4/2017.
- + Ngày 30/8/2010 bị Uỷ ban nhân dân huyện S ra Quyết định về việc đưa người nghiện ma tuý vào chữa trị, giáo dục lao động tại Trung tâm Giáo dục – Lao động tỉnh Sơn La thời gian 24 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 11/3/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tòng Văn D1, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 15 phút ngày 11/3/2024 Tổ công tác Công an xã T, S làm nhiệm vụ tại bản N, T, S phát hiện Tòng Văn D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại túi áo khoác bên trái đang mặc của D 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất chất bột liên kết màu trắng và 01 mảnh màu hồng (D khai nhận là Heroine và Hồng phiến), tổ công tác lập biên bản quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Blade màu trắng – đen, không có biển kiểm soát.
Ngày 12/3/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy, kết quả:
- “- 01 mảnh màu hồng có khối lượng 0,05 gam, trích toàn bộ 0,05 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu Đ1.
- - Chất bột liên kết màu trắng có khối lượng 0,06 gam, trích toàn bộ 0,06 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu Đ2”.
Kết luận giám định số 682 ngày 14/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
- “- Mẫu ký hiệu Đ1 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam;
- - Mẫu ký hiệu Đ2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,06 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,05 gam, loại Methamphetamine và 0,06 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 14 giờ, ngày 11/3/2024 Tòng Văn D mang theo số tiền là 50.000đ điều khiển xe mô tô từ nhà đến bản K, L, huyện S để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đến địa phận bản K thì D thấy một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đứng ở ven đường, D đi đến gần hỏi người này có ma tuý bán không, người này bảo có và hỏi D mua loại ma tuý gì, D lấy số tiền 50.000₫ ra đưa cho người này và nói mua cả Hồng phiến và Heroine. Người đàn ông nhận tiền rồi đi vào phía trong bản một lúc sau quay ra đưa cho D 01 gói giấy
3
bạc bên trong có chứa mảnh viên Hồng phiến cùng Heroine, D nhận gói ma tuý rồi đi về. Trên đường về D vào bụi cây ven đường trích một ít Hồng phiến cùng Heroine ra sử dụng bằng hình thức hít qua đường hô hấp, sử dụng xong D vứt bật lửa và giấy bạc ngay tại đấy rồi gói số ma tuý còn lại cất giấu vào trong túi áo khoác đang mặc tiếp tục đi về, khi D về đến địa phận bản N, xã T, huyện M thì bị tổ công tác Công an xã T làm nhiện vụ phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 145/CT-VKSSM ngày 07 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Tòng Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Tòng Văn D từ 01 năm 04 tháng - 01 năm 10 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Chấp nhận việc CQCSĐT đã trả lại cho cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 01 chiếc xe mô tô. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tòng Văn D1 trình bày: Anh là con đẻ của bị cáo Tòng Văn D, chiếc xe mô tô mà bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện tội phạm là tài sản anh, anh mua lại xe cũ nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ theo quy định, khi bị cáo mang xe đi mua ma túy anh không biết. Anh đã được CQCSĐT trả lại xe, anh nhất trí và không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến tranh luận gì và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người
4
tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau
- - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 15 giờ 45 phút, ngày 11/3/2024 đối với Tòng Văn D cùng vật chứng bị thu giữ là một gói giấy bạc bên trong có chứa chất chất bột liên kết màu trắng và 01 mảnh màu hồng; Kết luận giám định số 682/KL ngày 14/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “... Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,05 gam loại Methamphetamine và 0,06 gam loại Heroine (Heroin)...".
- - Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án và khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 11/3/2024 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 0,06 gam ma túy loại Heroine và 0,05 gam loại Methamphetamine (Tổng khối lượng hai chất là 0,11 gam) mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.
Như vậy, nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật
[3] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố mẹ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân rất xấu, đã từng bị kết án nhiều lần, đã đi cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn không từ bỏ được ma túy và thực hiện hành vi phạm tội mới, cho thấy ý thức chấp hành pháp luật kém và tính khó giáo dục cải tạo của bị cáo.
[4] Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội,
5
làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Số ma túy đã sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại 01 mảnh giấy bạc, 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
Đối với người đàn ông bị cáo khai nhận đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết tên, tuổi và địa chỉ của người này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để mở rộng điều tra làm rõ.
Đối với chiếc xe mô tô thu giữ trong vụ án xác định là tài sản hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tòng Văn D1, khi bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội anh D1 không biết và có đơn xin được trả lại xe nên được CQCSĐT đã trả lại xe cho anh D1 là có căn cứ chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và đã xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Tòng Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Tòng Văn D 01 năm 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã
6
dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 0003610.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 139/QĐ – VKSSM ngày 07/6/2024 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/6/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
Chấp nhận việc CQCSĐT đã trả lại xe cho anh Tòng Văn D1.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/7/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |
Bản án số 199/2024/HS - ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 199/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng
