Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 199/2024/DS-PT

Ngày: 06-5-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

và Hợp đồng ủy quyền

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân

Ông Trần Thanh Tòng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và hợp đồng ủy quyền”; do Bản án Dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 159/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị Bích T, sinh năm 1968; địa chỉ: số A, đường Đ, khu phố E, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Lê Văn L, sinh năm 1994; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương (có mặt)

Bị đơn:

  1. Bà Hồ Thị Thu T1, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp A, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; (vắng mặt)
  2. Người đại diện theo ủy quyền của bà T1: Anh Trần Văn H, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp H, xã H, huyện D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt)

  3. Ông Nguyễn Thành D, sinh năm 1966; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt)

Người kháng cáo: Bà Võ Thị Bích T và bà Hồ Thị Thu T1

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Võ Thị Bích T và bà Hồ Thị Thu T1, ông Nguyễn Thành D có mối quan hệ quen biết. Bà T1, ông D thỏa thuận sẽ chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 12, tờ bản đồ 559 tọa lạc tại xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh cho bà T. Ngày 31/12/2021, ông D ký Hợp đồng ủy quyền cho bà T1 toàn quyền định đoạt đối với QSDĐ và tài sản gắn liền với đất nêu trên, cùng ngày, bà T1 và bà T ký hợp đồng đặt cọc, mục đích để chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 12, tờ bản đồ 559, diện tích 225,2m², tọa lạc tại xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh với giá 750.000.000 (bảy trăm năm mươi triệu) đồng.

Theo thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc, bà Thu thanh t cho bà T1 tổng cộng 02 lần, lần đầu đặt cọc số tiền 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng, bà T đã giao tiền ngay khi ký hợp đồng đặt cọc. Hai bên hẹn sẽ thanh toán đủ số tiền còn lại là 350.000.000 (ba trăm năm mươi triệu) đồng vào khoảng ngày 15/3/2022. Tuy nhiên, thực tế đến ngày 17/3/2022, hai bên mới gặp nhau tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thanh V để thực hiện thủ tục ký hợp đồng ủy quyền và giao nhận số tiền còn lại.

Vào ngày 17/3/2022, bà T đã giao thêm cho bà T1 số tiền 330.000.000 (ba trăm ba mươi triệu) đồng, còn giữ lại số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng hẹn khi nào ra Giấy CNQSDĐ đứng tên bà T thì bà T sẽ giao số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng còn lại. Đến nay, bà T đã giao cho bà T1 tổng cộng là 730.000.000 (bảy trăm ba mươi triệu) đồng, bà T1 đã giao cho bà Thu giữ bản gốc Giấy CNQSDĐ.

Sau khi nhận tiền xong, bà T1 hứa hẹn sẽ đi làm thủ tục trích lục hồ sơ bản vẽ và làm thủ tục sang tên cho bà T nhưng từ ngày 17/3/2022 đến khoảng tháng 7/2023, bà T1 chỉ hứa hẹn mà không thực hiện như cam kết. Đến đầu tháng 7/2023, bà T1 liên hệ yêu cầu bà T cầm bản gốc Giấy CNQSDĐ sang để thực hiện việc đo đạc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng khi đến vị trí đất thì bà T mới được đoàn đo đạc của UBND Huyện D cho biết đất nằm trong quy hoạch và đoàn đang đo đạc để mở rộng đường. Bà T có liên hệ với UBND Huyện D thì nhận được Thông báo số 380/TB-UBND ngày 29/3/2021 về việc tạm ngừng các giao dịch về quyền sử dụng đất. Bà T có liên hệ bà T1 để yêu cầu hủy các hợp đồng ủy quyền, hợp đồng đặt cọc do bà T1 đã vi phạm hợp đồng, yêu cầu bà T1, ông D có nghĩa vụ liên đới trả lại số tiền đặt cọc đã nhận là 730.000.000 đồng nhưng bà T1, ông D không đồng ý nên bà T khởi kiện yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất ngày 31/12/2021 và Hợp đồng ủy quyền số công chứng 2139, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/3/2022 được ký giữa bà Võ Thị Bích T và bà Hồ Thị Thu T1 tại Văn phòng C,

3

tỉnh Bình Dương; buộc bà Hồ Thị Thu T1 và ông Nguyễn Thành D có nghĩa vụ liên đới trả lại cho bà T số tiền 730.000.000 (bảy trăm ba mươi triệu) đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, tại các biên bản lấy lời khai, bị đơn – bà Hồ Thị Thu T1 và người đại diện theo ủy quyền của bà T1 trình bày:

Bà T1, anh H thống nhất lời trình bày của bà T về thời gian, nội dung các thỏa thuận trong Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất ngày 31/12/2021 và Hợp đồng ủy quyền số công chứng 2139, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/3/2022 giữa bà Võ Thị Bích T và bà Hồ Thị Thu T1 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thanh V. Bà T1 đã nhận số tiền 730.000.000 (bảy trăm ba mươi triệu) đồng là tiền đặt cọc mua bán QSDĐ và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 12, tờ bản đồ 559, diện tích 225,2m², tọa lạc tại xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Quá trình thỏa thuận, bà T1 có thông báo cho bà T biết về việc đất hiện đang quy hoạch để mở rộng đường, bà T cũng thống nhất tiếp tục nhận chuyển nhượng. Thực tế bà T1 đã giao nhà đất cho bà T xong, bà T còn cho bà T1 thuê lại căn nhà và đất để tiếp tục sử dụng với giá thuê là 2.000.000 (hai triệu) đồng/tháng. Vì vậy, bà T1 không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cả hai bên đã tự nguyện tiến hành giao dịch chuyển nhượng thông qua hình thức hợp đồng ủy quyền toàn phần và đã thanh toán tiền mua đất và giao nhận tài sản xong.

Quá trình giải quyết vụ án, tại các biên bản lấy lời khai, bị đơn – ông Nguyễn Thành D trình bày:

Năm 2020, ông D và bà T1 đã thực hiện thủ tục ly hôn và được Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương giải quyết theo Quyết định số 35/2020/QÐST-VHNGĐ ngày 27/02/2020. Ông D, bà T1 đã tự thỏa thuận phân chia tài sản sau ly hôn, cụ thể ông D đã ủy quyền cho bà T1 toàn quyền định đoạt đối với QSDĐ và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 12, tờ bản đồ 559, diện tích 225,2m², tọa lạc tại xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh theo Hợp đồng ủy quyền lập ngày 31/12/2021 tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương. Do đó, bà T1 định đoạt như thế nào ông D không biết, ông D không còn liên quan đến QSDĐ và tài sản gắn liền với đất nêu trên. Ông D chỉ cung cấp lời khai mà không đồng ý ký tên vào biên bản lấy lời khai, không đến Tòa án làm việc cũng như không đồng ý ký nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 117, 123, 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 3, 28 của Luật Đất đai 2013; Điều 19 Nghị định 43/204/NĐ-CP, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

4

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Bích T về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

    Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 12, tờ bản đồ 559, tọa lạc tại xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh giữa bà Võ Thị Bích T và bà Hồ Thị Thu T1 thông qua Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất ngày 31/12/2021 và Hợp đồng ủy quyền số công chứng 2139, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/3/2022 được ký giữa bà Võ Thị Bích T và bà Hồ Thị Thu T1 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương là vô hiệu.

  2. Bà Hồ Thị Thu T1 có nghĩa vụ trả lại cho bà Võ Thị Bích T số tiền 730.000.000 (bảy trăm ba mươi triệu) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

    Bà Võ Thị Bích T có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Hồ Thị Thu T1 QSDĐ và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 12, tờ bản đồ 559, diện tích 225,2m², tọa lạc tại xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh và bản chính Giấy CNQSDĐ số CH00610 do UBND Huyện D cấp ngày 05/9/2013 cho bà Hồ Thị Thu T1 và ông Nguyễn Thành D đối với thửa đất số 12, tờ bản đồ 559, diện tích 225,2m², tọa lạc tại xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

  3. Về chi phí tố tụng: Bà Hồ Thị Thu T1 phải chịu 3.000.000 (ba triệu) đồng chi phí định giá, xem xét thẩm định tại chỗ. Bà Võ Thị Bích T đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng nên bà T1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà T số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng.
  4. Về án phí: Bà Hồ Thị Thu T1 phải chịu 33.800.000 (ba mươi ba triệu tám trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Thành D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Võ Thị Bích T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại cho bà T số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0013746 ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Nội dung kháng cáo: Ngày 05 tháng 02 năm 2024 bà Võ Thị Bích T có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh sửa bản án sơ thẩm, buộc ông D

5

có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà; Ngày 06 tháng 02 năm 2024 bà Hồ Thị Thu T1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện của nguyên đơn trình bày: Với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, yêu cầu ông D cùng liên đới với bà T1 có nghĩa vụ trả tiền cho bà T là có căn cứ. Bởi vì theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn còn đứng tên của bà T1 và ông D, nên được xem là tài sản chung của hai người; tính đến thời điểm hiện nay thì ông D, bà T1 chưa có văn bản nào thỏa thuận việc phân chia tài sản chung, mặc dù bà T1 và ông D đã ly hôn; tại giấy ủy quyền ngày 17-3-2022 thì thể hiện ông D, bà T1 ủy quyền cho bà T đối với thửa đất số 12, tờ bản đồ 559. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T, buộc ông D có nghĩa vụ liên đới với bà T1 trả tiền cho bà T.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.

  • + Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;
  • Đối với bà Hồ Thị Thu T1 có đơn kháng cáo, nhưng được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà T1.
  • + Về nội dung: Bà T kháng cáo yêu cầu ông D phải có nghĩa vụ liên đới với bà T1 trả tiền cho bà. Xét thấy giữa ông D và bà T1 đã ly hôn từ năm 2020, ông D đã có văn bản ủy quyền toàn bộ cho bà T1 định đoạt phần đất tại thửa đất số 12, tờ bản đồ 559. Mặt khác bà T cũng thừa nhận quá trình giao dịch giữa bà T với bà T1 hoàn toàn không có mặt ông D, bà T cũng không có giao tiền cho ông D. Vì vậy cấp sơ thẩm không buộc ông D có nghĩa vụ liên đới trả tiền cho bà T là có cơ sở. Bà T kháng cáo nội dung này, nhưng không cung cấp được chứng cứ mới, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà T.

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị Bích T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Sau khi Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu xét xử sơ thẩm ngày 02-02-2024; ngày 05 tháng 02 năm 2024 bà Võ Thị Bích T có đơn kháng cáo; ngày 06 tháng 02 năm 2024 bà Hồ Thị Thu T1 có đơn kháng cáo. Các đương sự có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm; Xét thấy việc kháng cáo của các đương sự là đảm bảo theo quy định của pháp luật.

6

Bà Hồ Thị Thu T1 có đơn kháng cáo nhưng đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử yêu cầu kháng cáo đối với bà Hồ Thị Thu T1.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn thấy rằng: Về nghĩa vụ liên đới của ông Nguyễn Thành D, Hội đồng xét xử xét thấy ông D và bà T1 đã ly hôn theo Quyết định số 35/2020/QÐST-VHNGĐ ngày 27/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Ngày 31/12/2021, ông D và bà T1 đã lập Hợp đồng ủy quyền với nội dung bà T1 được quyền chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 12, tờ bản đồ 559. Các văn bản thỏa thuận đặt cọc, Hợp đồng ủy quyền giữa bà T1 và bà T, văn bản nhận tiền và cam kết vào ngày 17/3/2022 chỉ có bà T và bà T1 giao dịch với nhau, ông D hoàn toàn không tham gia vào thỏa thuận giữa bà T với bà T1 và không hưởng lợi từ giao dịch giữa bà T và bà T1. Bà T không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh ông D có tham gia giao dịch và cùng bà T1 sử dụng số tiền 730.000.000 (bảy trăm ba mươi triệu) đồng. Do đó, không có căn cứ buộc ông D có nghĩa vụ liên đới cùng bà T1 trả lại cho bà T số tiền tiền 730.000.000 (bảy trăm ba mươi triệu) đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm không buộc ông D có nghĩa vụ liên đới với bà T1 hoàn trả số tiền 730.000.000 đồng cho bà T là đúng pháp luật.

Vì vậy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà bà Võ Thị Bích T; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bà Võ Thị Bích T không được chấp nhận, nên phải chịu án phí theo quy định Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Bà Hồ Thị Thu T1 bị đình chỉ xét xử yêu cầu kháng cáo, do triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, nên số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm được sung vào công quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Thị Thu T1.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị Bích T.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Căn cứ vào các Điều 117, 123, 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 3, 28 của Luật Đất đai 2013; Điều 19 Nghị định 43/204/NĐ-CP, các Điều 147, 227,

7

228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Bích T về việc “Hủy Hợp đồng đặt cọc và Hợp đồng ủy quyền”.

    Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 12, tờ bản đồ 559, tọa lạc xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh giữa bà Võ Thị Bích T và bà Hồ Thị Thu T1 thông qua Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất ngày 31/12/2021 và Hợp đồng ủy quyền số công chứng 2139, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/3/2022 được ký giữa bà Võ Thị Bích T và bà Hồ Thị Thu T1 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương là vô hiệu.

  2. Bà Hồ Thị Thu T1 có nghĩa vụ trả lại cho bà Võ Thị Bích T số tiền 730.000.000 (bảy trăm ba mươi triệu) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

    Bà Võ Thị Bích T có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Hồ Thị Thu T1 QSDĐ và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 12, tờ bản đồ 559, diện tích 225,2m², tọa lạc tại xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh và bản chính Giấy CNQSDĐ số CH00610 do UBND Huyện D cấp ngày 05/9/2013 cho bà Hồ Thị Thu T1 và ông Nguyễn Thành D đối với thửa đất số 12, tờ bản đồ 559, diện tích 225,2m², tọa lạc tại xã Bến Củi, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh

  3. Về chi phí tố tụng: Bà Hồ Thị Thu T1 phải chịu 3.000.000 (ba triệu) đồng chi phí định giá, xem xét thẩm định tại chỗ. Bà Võ Thị Bích T đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng nên bà T1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà T số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng.
  4. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị Thu T1 phải chịu 33.800.000 (ba mươi ba triệu tám trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Thành D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

      Bà Võ Thị Bích T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại cho bà T số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0013746 ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu.

    2. Án phí dân sự phúc thẩm:

8

  • - Bà Võ Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007320 ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu. Đã nộp xong.
  • - Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng do bà Hồ Thị Thu T1 đã nộp theo biên lai thu số 0007324 ngày 07 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND.TTN;
  • - TAND. H.DMC;
  • - Chi cục THADS. H.DMC;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án DSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2024/DS-PT ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc và hợp đồng ủy quyền

  • Số bản án: 199/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và Hợp đồng ủy quyền
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger