Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH-TP . HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 199/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20/6/2025

"V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân :

Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy

Bà Nguyễn Thị Hà

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Anh-Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 135/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXX-ST ngày 18 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2025/QĐHPT ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1999
    Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện M, Hà Nội.
  2. Bị đơn : Anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1993
    Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện M, Hà Nội.

Có mặt chị T, vắng mặt anh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2025 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:

-Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Duy H đăng ký kết hôn ngày 22/02/2017 tại UBND xã T, huyện M, Hà Nội. Sau khi cưới chị về gia đình anh H làm dâu, vợ chồng ở chung cùng với gia đình anh H. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên xô sát, anh H chơi bời không quan tâm đến gia đình vợ con. Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn gia đình hai bên đã khuyên bảo nhiều nhưng quan hệ vợ chồng vẫn không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

-Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là: Nguyễn Duy Tuấn K, sinh ngày 07/10/2016 và Nguyễn Thị Hồng Á, sinh ngày 12/8/2018. Hiện hai cháu đang ở với anh H. Ly hôn chị đề nghị để anh H tiếp tục nuôi hai con chung và chị xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con vì hiện nay chị không có công ăn việc làm, không có chỗ ở ổn định.

-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Duy H: Quá trình điều tra Tòa án đã báo gọi nhưng anh H không đến làm việc. Tòa án đã về gia đình anh H xác minh gặp bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ anh H được biết: Anh H và chị T kết hôn năm 2017. Sau khi kết hôn chị T về gia đình bà làm dâu, vợ chồng ở chung với gia đình bà. Quá trình chung sống hai vợ chồng anh chị sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2019 thì bà không biết vợ chồng có mâu thuẫn gì không mà chị T tự nhiên bỏ về nhà mẹ đẻ ở, bản thân anh H và gia đình bà đã gọi nhiều lần nhưng chị T không quay về. Hiện vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người mỗi nơi.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Duy Tuấn K, sinh ngày 07/10/2016 và Nguyễn Thị Hồng Á, sinh ngày 12/8/2018. Từ khi bố mẹ cháu sống ly thân thì hai cháu ở với anh H và bà. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh H, quan điểm của bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Còn hai cháu bà đề nghị Tòa án giao cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng và bà sẽ có trách nhiệm hỗ trợ với anh H trong việc trông nom chăm sóc các cháu.

Đối với các văn bản tố tụng mà Tòa án giao cho anh H, bà xin nhận thay và cam đoan giao cho anh H.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Xử:

  • +Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Duy H
  • +Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Duy Tuấn K, sinh ngày 07/10/2016 và Nguyễn Thị Hồng Á, sinh ngày 12/8/2018 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung cho chị T đến khi nào chị có điều kiện hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
  • +Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • +Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

-Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình điều tra, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần cho anh H nhưng tại phiên tòa hôm nay anh H vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Duy H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 22/02/2017 tại UBND xã T, huyện M, Hà Nội. Do vậy, cuộc hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do trong cuộc sống vợ chồng sống thiếu sự tin tưởng lẫn nhau, không có sự quan tâm chia sẻ với nhau. Tại phiên tòa chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn. Đối với anh H, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay anh đều vắng mặt nên Tòa án không điều tra được về phía anh H. Tuy nhiên xác minh tại gia đình cũng như chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú được biết vợ chồng anh chị chung sống với nhau cũng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện vợ chồng anh chị sống ly thân mỗi người mỗi nơi, không ai quan tâm đến ai. Như vậy có thể thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị được ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung:

Vợ chồng anh chị có 02 con chung là: Nguyễn Duy Tuấn K, sinh ngày 07/10/2016 và Nguyễn Thị Hồng Á, sinh ngày 12/8/2018. Hiện hai cháu đang ở ổn định với anh H, điều kiện sức khỏe học hành của các cháu đều được bảo đảm, nguyện vọng của cháu K muốn tiếp tục được ở với bố. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa chị T xác định hiện chị không có công ăn việc làm ổn định, điều kiện chỗ ở không có chị đang phải đi thuê nhà nên thấy cần giao hai cháu cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung cho chị T đến khi nào chị có điều kiện hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

[3] Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị T không đề nghị giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28,35, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51,56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ các Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Duy H.
  2. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Nguyễn Duy Tuấn K, sinh ngày 07/10/2016 và Nguyễn Thị Hồng Á, sinh ngày 12/8/2018 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung cho chị T đến khi nào chị có điều kiện hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Chị T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  1. Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí: Chị T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh theo Biên lai số 0056076 ngày 23/4/2025.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị T được quyền kháng cáo. Anh H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAHN
  • -VKSNDH. Mê Linh.
  • -Chi cục THADS H. Mê Linh.
  • -UBND xã Tiến Thắng
  • -Các đương sự.
  • -Lưu HS, VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 199/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Thúy kết hôn với anh Hiếu, do mâu thuẫn vợ chồng ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger