Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 199/2025/DS-PT

Ngày: 19 - 3 - 2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất;

Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Thủy

Ông Trần Văn Đạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1068/2024/TLPT- DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 643/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1960 (có mặt);

Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm 1953 (có mặt);

Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Q, sinh năm 1956 (vắng mặt);
    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh H (có mặt);
  2. Ông Nguyễn Thế L, sinh năm 1972 (vắng mặt);
  3. Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1976 (vắng mặt);
  4. Ông Nguyễn Thế L1, sinh năm 1985 (có mặt);
  5. Ông Nguyễn Thành L2, sinh năm 1990 (vắng mặt);
  6. Cùng địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
  7. Bà Nguyễn Thị Ngọc L3, sinh năm 1974 (vắng mặt);
    Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
  8. Bà Nguyễn Thị Ngọc D1, sinh năm 1978 (vắng mặt);
    Địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của ông L2, bà D, bà L3, bà D1, ông L: Bà Nguyễn Thị Thanh M (có mặt).

  1. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Trọng H1 - Chủ tịch (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đạo Minh H2 - chuyên viên Phòng T4 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:

Diện tích đất của gia đình bà đang sử dụng có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng từ ông Võ Đình T vào năm 1981. Khi nhận chuyển nhượng không ghi rõ diện tích nhưng có ghi vị trí tứ cận như sau: Đông giáp nhà ông Lê Đức N, Tây giáp quốc lộ A, Nam giáp đường đi vào trạm y tế, Bắc giáp nhà bà Phạm Thị T1 theo "Đơn xin cất nhà" của bà Lê Thị T2. Sau khi nhận chuyển nhượng đất năm 1982 gia đình bà có xây dựng căn nhà cấp 4 để ở và năm 1999 bà sửa chữa xây dựng lại nhà kiên cố như hiện tại ở cho đến nay. Khi xây dựng nhà gia đình bà có để lại một phần diện tích khoảng 85m² ở mặt phía đông để làm nơi để xe máy cày và sử dụng làm đường đi. Ngoài ra, khi xây dựng nhà gia đình bà có đúc phần đan (giả mê bê tông) dài khoảng 23m, ló ra đất khoảng 1m và mở cửa sổ ở phía đông. Năm 2010, gia đình bà có làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất trên nhưng chính quyền không cấp vì lý do mở rộng đường Quốc lộ và diện tích đất gia đình bà có biến động.

Đến năm 2019, gia đình bà được biết chính quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị Thanh M trong đó bao gồm phần diện tích khoảng 85m² đất phía đông. Hiện nay phần đan bê tông và cửa sổ này nằm trong phần diện tích đất cấp cho gia đình bà M. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc gia đình bà M trả lại cho gia đình bà một nửa diện tích khoảng 42m² (Từ vách nhà bà kéo ra ngang 2m, chiều dài 20,84m) và huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 372080 ngày 29/01/2013 đã cấp cho ông Nguyễn A, bà Nguyễn Thị Thanh M để điều chỉnh lại theo đúng hiện trạng thực tế sử dụng.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh M trình bày:

Nguồn gốc nhà và đất thửa số 234 tờ bản đồ số 24-1 xã C do gia đình bà đến ở và sử dụng ổn định từ năm 1976. Đến năm 2013 vợ chồng bà được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số BN 372080 ngày 29/01/2013.

Trong phần diện tích đất 383m² được cấp có diện tích con đường đi khoảng 85m² do gia đình bà sử dụng là đường đi riêng, vì các nhà xung quanh đã có rào, đất nhà bà H cao hơn lối đi này rất nhiều (hơn 1m) nên bà H không sử dụng đường đi này (nhà bà sử dụng hướng Quốc lộ A và mặt Chợ Công H3). Trên phần diện tích đất này gia đình bà đã xây cổng nhà, đổ sân xi măng và dùng làm lối đi chính vào nhà (nhà xây dựng quay mặt về hướng Nam thửa đất). Ngoài ra, có liên quan đến phần đất của bà H, do bà H xây dựng nhà có đúc 01 tấm đan mái kéo dài ló ra phần diện tích đất của gia đình bà, ngang tầm 1m, dài khoảng 20m. Do là chị em nên gia đình bà không có ý kiến về việc bà H xây nhà đúc đan ló qua diện tích đất của gia đình bà. Tuy nhiên, phần diện tích đất đường đi này là do nhà nước cấp cho gia đình bà. Do đó, bà đồng ý phần đất 20,8m² để sử dụng chung cho cả hai gia đình, bà H sử dụng phần không gian còn bà sử dụng phần đất dưới lan can này và không đồng ý như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các ông, bà Nguyễn Thế L, Nguyễn Thị Ngọc D, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Thành L2, Nguyễn Thị Ngọc L3, Nguyễn Thị Ngọc D1, trình bày:

Các ông bà là con của ông Nguyễn A (đã chết năm 2018) và bà Nguyễn Thị Thanh M. Các ông bà đồng ý với lời trình bày của mẹ là bà Nguyễn Thị Thanh M và không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do bà H xây dựng nhà có đúc 01 tấm đan mái kéo dài ló ra phần diện tích đất của gia đình bà diện tích 20,8m², các ông (bà) đồng ý phần này để sử dụng chung cho cả hai gia đình.

Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T trình bày: Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận cho hộ bà Nguyễn Thị Thanh M, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện T (nay là Văn phòng Đ1 - Chi nhánh T5) đã tiến hành kiểm tra thực địa, xác định đất không tranh chấp, hiện trạng sử dụng đất ổn định, đúng theo hồ sơ kê khai đăng ký và phù hợp với hồ sơ địa chính (được thể hiện tại Biên bản thẩm tra ngày 21/01/2013). Việc cấp giấy chứng nhận cho hộ bà Nguyễn Thị Thanh M đối với thửa đất số 234, diện tích 383m² là đúng theo hồ sơ địa chính (bản đồ địa chính đo đạc năm 2006, số mục kê) và hiện trạng sử dụng đất.

Trong phần diện tích cấp cho hộ bà M có diện tích khoảng 90m² là đường đi công cộng trước đây. Theo hồ sơ địa chính được thành lập năm 2006 thì phần diện tích đang tranh chấp trên không phải còn là đường đi mà thuộc thửa đất số 234 với diện tích 383m², lối đi này được quy chủ và xác nhận là đất của hộ bà Nguyễn Thị Thanh M sử dụng. Giấy chứng nhận cấp quyền sử dụng đất số BN 372080 ngày 29/01/2013 cho hộ bà Nguyễn Thị Thanh M là đúng trình tự thủ tục pháp luật. Sau khi xem xét đã cấp cho hộ bà Nguyễn Thị Thanh M là phù hợp, không cấp chồng, lấn và đúng quy định. UBND huyện đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận quyết định:

Căn cứ vào: khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015; Điều 166, Điều 267, Điều 271 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 96, Điều 100, Điều 101, Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai 2013, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh M về việc: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất".

Buộc bà Nguyễn Thị Thanh M và các con là các ông (bà) Nguyễn Thế L, Nguyễn Thị Ngọc D, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Thành L2, Nguyễn Thị Ngọc L3, Nguyễn Thị Ngọc D1 phải có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời một đoạn tường rào bề ngang 1m tại các điểm (11,24) và nền sân xi măng tại các điểm ( 11, 21, 23, 24) để trả cho bà Nguyễn Thị Thanh H, ông Nguyễn Q quyền sử dụng diện tích 20,8m² thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 24-1, xã C được xác định bởi các điểm (11, 21, 23, 24) theo Trích đo bản đồ địa chính ngày 31/7/2024 của Văn phòng Đ1.

Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 372080 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 29/01/2013 cho ông Nguyễn A và bà Nguyễn Thị Thanh M đối với diện tích 20,8m² thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 24-1, xã C được xác định bởi các điểm ( 11, 21, 23, 24) theo trích đo bản đồ địa chính ngày 31/7/2024 của Văn phòng Đ1.

Bà M có nghĩa vụ giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 372080 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 29/01/2013. Các đương có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký, chỉnh lý biến động, kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án và theo đúng quy định pháp luật về đất đai.

(Có trích bản đồ địa chính ngày ngày 31/7/2024 của Văn phòng Đ1 kèm theo).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 09/9/2024, bà Nguyễn Thị Thanh H có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 10/9/2024, bà Nguyễn Thị Thanh M có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp sơ thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của bà H: tuyên công nhận yêu cầu của bà M “đồng ý phần đất 20,8m² để sử dụng chung cho cả hai gia đình, bà H sử dụng phần không gian, còn bà M sử dụng phần dưới lan can”; giữ nguyên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Bà Nguyễn Thị Thanh H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà H và không chấp nhận kháng cáo của bà M.

Bà Nguyễn Thị Thanh M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà M và không chấp nhận kháng cáo của bà H.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thế L1 đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà M và không chấp nhận kháng cáo của bà H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý, cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà H, bà M. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà H, bà M; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm vắng mặt một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Xét việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn. Do đó, căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh M:

[2.1]. Theo Biên bản xem xét thẩm định, định giá tài sản được lập ngày 01/12/2023, ngày 14/6/2024, các bản ảnh và T3 đo bản đồ địa chính ngày 31/7/2024 của Văn phòng Đ1 thể hiện phạm vi diện tích đất đang tranh chấp đo đạc thực tế 75,8m² gồm các điểm (8, 10, 24, 11, 21, 23) thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ địa chính số 24.1 xã C.

Tài sản trên đất do vợ chồng bà Nguyễn Thị Thanh M xây dựng năm 2000 gồm: Cổng, tường rào, kết cấu trụ xây, cổng thép hộp và một phần tường xây; Sân nền xi măng, diện tích 86,4m² (không có mái che);

Tài sản trên không gian đất do vợ chồng bà Nguyễn Thị Thanh H xây dựng năm 1999 gồm: Phần ban công bê tông cốt thép, cách mặt sàn xi măng 4,5m, rộng 1m, dài 22,2m. Trên ban công có xây dựng thành lan can và vách tôn, mái tôn. Phía dưới có 03 khung cửa sổ 2 cánh 1,2m và 01 khung cửa thông gió 1m.

Nguyên đơn chỉ tranh chấp diện tích 41,68m² (bề ngang 2m, dài 20,84m) có 20,8m² ban công trong tổng diện tích đo đạc 75,8m².

[2.2]. Bà H cho rằng diện tích 41,68m² (bề ngang 2m, dài 20,84m) trong diện tích đo đạc thực tế 75,8m² được xác định bởi các điểm (8, 10, 24, 11, 21, 23) thuộc thửa đất số 233, tờ BĐĐC số 24-1 xã C và xuất trình “Đơn xin cất nhà” của bà Lê Thị T2 được Ủy ban nhân dân xã C xác nhận ngày 18/3/1981 thể hiện tứ cận: Đông giáp nhà ông Lê Đức N, Tây giáp Quốc lộ A, Nam giáp đường đi vào trạm y tế, Bắc giáp nhà bà Phạm Thị T1. Tuy nhiên, theo Biên bản xem xét thẩm định, định giá tài sản và T3 đo bản đồ địa chính thể hiện phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 234 do bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, theo sơ đồ minh họa kèm theo “Đơn xin cất nhà” của bà Lê Thị T2 thì đất phía Đ tiếp giáp khoảng đất trống rồi mới tiệm cận thửa đất của ông Lê Đức N. Tại Công văn số 766/UBND-NC ngày 22/02/2024, Ủy ban nhân dân huyện T cung cấp thông tin: Trước đây phía sau khu đất nhà bà Nguyễn Thị Thanh H là khu đất trống, UBND xã C cấp cho các hộ gia đình xây dựng nhà ở. Lối đi sau nhà bà H là lối vào nhà của bà Nguyễn Thị Thanh M. Đồng thời, tại Công văn số 25/UBND - KT ngày 15/02/2024 và Công văn số 209/ UBND - KT ngày 30/7/2024, Ủy ban nhân dân xã C cung cấp thông tin: Đối với diện tích đang tranh chấp khoảng 80m² là lối đi vào nhà hộ ông Nguyễn A, diện tích này không phải là đất do UBND xã quản lý.

Như vậy, các bên đương sự và Ủy ban xã, huyện T đều xác định phần đất tranh chấp trước đây là khu đất trống, đường đi công cộng. Mặt khác, Ủy ban nhân dân xã C xác định diện tích trong giấy xin cất nhà của bà Lê Thị T2 là 13m x 19m = 247m². Theo sổ mục kê vợ chồng bà H quy chủ sử dụng thửa 233 diện tích 338m², thực tế sử dụng qua đo đạc hiện trạng diện tích 342,6m² (trong đó có 34,6m² thuộc đất giao thông). Bà H chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này.

Tuy nhiên, bà H đã sử dụng phần không gian đất để xây dựng ban công bê tông cốt thép, rộng 1m, dài 20,84m; trên ban công có sê nô mái, thành lan can và vách tôn, mái tôn, hệ thống thoát nước mưa; Phía dưới có 03 khung cửa sổ 2 cánh 1,2m, 01 khung cửa thông gió 1m từ năm 1999 tức là trước thời điểm vợ chồng bà M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ bà M không ý kiến, khiếu nại hay tranh chấp gì. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 267 và Điều 271 Bộ luật Dân sự và Điều 170 Luật Đất đai xác lập quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất 20,8m² cho bà H, ông Q bao gồm cả quyền bề mặt đối với mặt đất, khoảng không gian trên mặt đất và lòng đất; đồng thời không công nhận cho bà H, ông Q được sử dụng toàn bộ diện tích 41,28m², là phù hợp.

[2.3]. Xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 372080 ngày 29/01/2013 đối với thửa 234, tờ bản đồ số 24-1, xã C diện tích 383m² cho ông Nguyễn A và bà Nguyễn Thị Thanh M.

Cơ sở pháp lý, tài liệu, chứng cứ để Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông A, bà M theo vị trí, ranh giới, diện tích được thể hiện tại bản đồ chính xã C lập năm 2006 và hiện trạng sử dụng được thể hiện tại Biên bản thẩm tra ngày 21/01/2013 của Văn phòng Đ1 - chi nhánh T5. Tuy nhiên, Biên bản thẩm tra hiện trạng không thể hiện tài sản, vật kiến trúc của hộ liền kề trên phạm vi đất. Chủ sử dụng liền kề bà H, bà X đều xác định không biết và không được ký xác nhận giáp ranh, Ủy ban nhân dân huyện T thừa nhận việc xây dựng và sử dụng đất của bà H nhưng khi cấp quyền sử dụng cho ông A, bà M đã cấp luôn cả phần đất bà H sử dụng khoảng không bên trên là không đảm bảo quyền lợi của bà H, ông Q. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn là có căn cứ.

[2.4]. Từ những phân tích trên cho thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà H và bà M về việc sửa bản án sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà H và bà M; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3]. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh được chấp nhận.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, lẽ ra bà Nguyễn Thị Thanh H và bà Nguyễn Thị Thanh M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nhưng do bà M và bà H là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí dân sự phúc thẩm. Do đó, căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử phúc thẩm miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà H và bà M.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148; Điều 270; Điều 293; khoản 1 Điều 308; Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H và bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh M

2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận về “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H và bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh M.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh H và bà Nguyễn Thị Thanh M được miễn.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh Ninh Thuận;
  • - Các ĐS;
  • - Lưu: HS; VP; ĐTTB (15b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thuý Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2025/DS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 199/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Thanh H kiện bà Nguyễn Thị Thanh M v/v Tranh chấp quyền sử dụng đất; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger