Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 199/2025/DS-PT.

Ngày: 10/3/2025.

V/v kiện: “Tranh chấp về chia tài sản chung".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Nguyên Nguyên.

Các Thẩm phán: Ông Bùi Hữu Nhân

Bà Phạm Thị Thanh Trúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Mai Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025 và ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 12/2025/TLPT-DS ngày 07 tháng 01 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về chia tài sản chung”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 401/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận 5 bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 462/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đàm Thừa M, sinh năm 1962 (có mặt);

Địa chỉ: Số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Khê Hồng Hải Y, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số B N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy uỷ quyền số công chứng: 024121, quyển số 11 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/11/2020 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Quan Vân A, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số B N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn: Ông Đàm Thừa Đ, sinh năm 1970;

Địa chỉ: Số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Bà Trần Thảo T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số B Đường số D, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy uỷ quyền số công chứng: 015032, quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/11/2022 tại Văn phòng C3) (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Từ Tâm Á, sinh năm 1964;
  2. Ông Đàm Tổ K, sinh năm 1995;
  3. Ông Đàm Tổ T1, sinh năm 1999;
  4. Bà Đàm Bích N, sinh năm 2005;

Cùng thường trú: Số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Á, ông K, ông T1, bà N: Bà Khê Hồng Hải Y, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số B N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo hợp đồng uỷ quyền số công chứng: 008603 quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/4/2022 tại Phòng Công chứng số 4 Thành phố C2) (có mặt).

  1. Bà Lê Thu B, sinh năm 1968; Địa chỉ thường trú: Số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà B: Ông Lê Lưu Duy T2, sinh năm 1977; Địa chỉ Số B N, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy uỷ quyền số công chứng: 000283 quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/01/2019 tại Văn phòng C4) (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà B: Luật sư Võ Đức T3, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số D T, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

  1. Bà Đàm Ngọc P, sinh năm 1994 (có mặt);
  2. Bà Đàm Lê Y1, sinh năm 2007 (vắng mặt);

(Có ông Đàm Thừa T4 và bà Lê Thu B là đại diện đương nhiên cho trẻ Đàm Lê Y1).

Cùng thường trú: Số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thu B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ghi ngày 28 tháng 11 năm 2018, B1 tự khai ghi ngày 08 tháng 01 năm 2019 và các biên bản phiên họp, phiên hòa giải do Tòa án nhân dân Quận 5 lập, nguyên đơn là ông Đàm Thừa M có người đại diện theo uỷ quyền là bà Khê Hồng Hải Y trình bày:

Ông Đàm Quân Đ1, sinh năm 1925 (mất năm 1985) và bà Lưu Trọng L, sinh năm 1937 (mất năm 1985) có 04 (bốn) người con (02 gái và 02 trai), 02 người con gái tên là Đàm Ái H và Đàm Ngọc C đã lấy chồng ở riêng; còn 02 người con trai tên là Đàm Thừa M và Đàm Thừa Đ. Ông Đàm Quân Đ1 và bà Lưu Trọng L có tạo lập được tài sản chung là nhà đất tọa lạc tại địa chỉ số E Phó C, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 22 tháng 7 năm 1994, bà Lưu Trọng L làm đơn đề nghị Công an P1, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ có chung hộ khẩu với bà tại địa chỉ số E P C, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh để bổ túc giấy tờ. Lý do, là thời điểm đó, bà L đã có ý định muốn đổi căn nhà số E P C, Phường A, Quận E của mình để lấy 02 căn nhà số G D, Phường A (nay là Phường A), Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ.

Sau đó, bà L đã cho tiến hành lập thủ tục hồ sơ mua bán (hoán đổi) 02 phần nhà đất nêu trên. Cụ thể:

Ngày 31 tháng 08 năm 1994, bà Lưu Trọng L ký hợp đồng bán nhà và đất số 57 Phó C, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho vợ chồng ông Đỗ Tích N1, bà Trương Thị S, thể hiện qua Hợp đồng mua bán nhà số 2477/HĐ-MBN tại Phòng C5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đồng thời, ngày 31 tháng 08 năm 1994, ông Đỗ Tích N1, bà Trương Thị S ký hợp đồng bán nhà và đất số 77/26-77/27 D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ, thể hiện qua Hợp đồng mua bán nhà số 2476/HĐ – MBN tại Phòng C5, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên Hợp đồng mua bán nhà này là có ghi tên và có chữ ký của bà Lưu Trọng L trên hợp đồng. Phần tên của ông Đàm Thừa M thì ghi thêm tình trạng hôn nhân “(độc thân)”, còn phần tên của ông Đàm Thừa Đ thì ghi “có vợ là Lê Thu B”.

Sau khi ký các hợp đồng mua bán nhà, ông Đàm Thừa M và bà Lưu Trọng L chuyển đến sinh sống tại căn nhà số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Còn ông Đàm Thừa Đ và vợ con thì sinh sống tại nhà số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ thời điểm này, 02 căn nhà đã được tách bạch riêng biệt, mặc dù có tường chung, nhưng là 02 căn nhà có mặt tiền tiếp giáp hẻm, có lối ra vào riêng và các công trình phụ đều riêng biệt, không ảnh hưởng, phụ thuộc nhau.

Năm 2008, Ủy ban nhân dân Quận E cấp lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 508/2008/UB.GCN ngày 04/02/2008 cho căn nhà số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Ghi tên chủ sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở trên giấy này bao gồm: ông Đàm Thừa M, ông Đàm Thừa Đ và bà Lê Thu B.

Trong quá trình sinh sống, ông Đàm Thừa M khai là không tiến hành xây mới mà chỉ sửa chữa lại những hư hỏng của căn nhà. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, ông Đàm Thừa M, ông Đàm Thừa Đ đã xin cấp 02 sổ hộ khẩu gia đình riêng biệt.

Nay do tuổi đã cao, không muốn xảy ra tranh chấp về sau này, nên ông Đàm Thừa M đã bàn bạc với vợ chồng ông Đàm Thừa Đ và bà Lê Thu B để tách thửa đối với thửa đất tại số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thành 02 căn riêng biệt về mặt giấy tờ chủ quyền nhưng vợ chồng ông Đàm Thừa Đ và bà Lê Thu B không đồng ý, mà ông M và bà B chỉ muốn tách toàn bộ căn nhà thành 03 phần bằng nhau, tức là vợ chồng ông Đ, bà B phải được nhận 02 phần giá trị của toàn bộ phần nhà đất này.

Do không đạt được sự đồng thuận, nên tháng 10 năm 2018, ông Đàm Thừa M có đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân Phường A1 tiến hành hòa giải tranh chấp giữa ông và vợ chồng ông Đ, bà B. Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận E đã 02 lần mời vợ chồng ông Đ, bà B đến tham gia buổi hòa giải nhưng ông Đ và bà B đều vắng mặt không có lý do.

Ngày 28 tháng 11 năm 2018, ông Đàm Thừa M khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung là nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, tạm tính giá trị tài sản tại thời điểm khởi kiện là 6.000.000.000 đồng (sáu tỷ đồng). Phần tài sản ông M yêu cầu được chia là nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ: số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, tạm tính trị giá 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng).

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đàm Thừa M vẫn giữ nguyên yêu cầu được chia tài sản chung là căn nhà số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, ông xin hưởng 1/2 tài sản chung và được nhận hiện vật là toàn bộ phần diện tích căn nhà và đất số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, ông M sẽ hoàn lại cho phía gia đình ông Đ, bà B phần giá trị chênh lệch.

Ông Đàm Thừa M không đồng ý với yêu cầu độc lập của bà Lê Thu B là đòi được nhận 1/3 giá trị tài nhà đất số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, vì ý chí của bà Lưu Trọng L khi mua căn nhà này chỉ để cho ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ.

Ông Đàm Thừa M không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà Lê Thu B về việc yêu cầu ông Đàm Thừa Đ (chồng bà B) phải thanh toán lại cho bà phần giá trị tài sản đang tranh chấp.

Bị đơn là ông Đàm Thừa Đ có người đại diện theo ủy quyền là bà Trần Thảo T trình bày:

Nguồn gốc nhà đất tọa lạc tại số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung hợp nhất của ông Đàm Thừa M, ông Đàm Thừa Đ và bà Lê Thu B theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 508/2008/UB.GCN do Ủy ban nhân dân Quận E cấp ngày 04 tháng 02 năm 2008 và Hợp đồng mua bán nhà số 2476/HĐ.MBN lập tại Phòng C5, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 31 tháng 08 năm 1994 đã thực hiện thủ tục đăng bộ ngày 11 tháng 10 năm 1994.

Ông Đàm Thừa Đường K1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đàm Thừa M, vì toàn bộ căn nhà nêu trên được dùng để làm nơi thờ cúng tổ tiên ông bà. Trong trường hợp phải phân chia, thì ông đề nghị chia căn nhà nêu trên thành 03 phần và ông phải được hưởng 1/3 giá trị căn nhà, tương đương với 4.674.666.667 đồng (tính theo giá mà các chứng thư và báo cáo kết quả thẩm định giá ngày 18/01/2021 của Công ty TNHH T5 thẩm định theo yêu cầu của nguyên đơn – bị đơn cũng đồng ý với kết quả thẩm định giá này).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Lê Thu B có người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Lưu Duy T2 trình bày:

Về nguồn gốc nhà và đất tại địa chỉ số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cũng giống như ý kiến của phía bị đơn trình bày.

Bà Lê Thu B không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đàm Thừa M yêu cầu tách thửa căn nhà số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì toàn bộ căn nhà trên được dùng làm nơi thờ cúng tổ tiên ông bà. Trong trường hợp, buộc phải chia tài sản trên thì bà Lê Thu B yêu cầu được chia 1/3 giá trị tài sản nhà và đất tại địa chỉ số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể, toàn bộ căn nhà tại địa chỉ số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh đã được thẩm định giá có giá trị là 14.024.000.000 đồng (mười bốn tỷ không trăm hai mươi bốn triệu đồng), bà B yêu cầu được chia 1/3 giá trị tài sản nêu trên, tương đương là 4.674.666.667 đồng (tính theo giá mà các chứng thư và báo cáo kết quả thẩm định giá ngày 18/01/2021 của Công ty TNHH T5 thẩm định theo yêu cầu của nguyên đơn – bà Lê Thu B cũng đồng ý với kết quả thẩm định giá này).

Ngoài ra, bà Lê Thu B còn yêu cầu chia phần tài sản chung của bà với ông Đàm Thừa Đ ra riêng biệt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Từ Tâm Á, ông Đàm Tổ K, ông Đàm Tổ T1 và bà Đàm Bích N (là vợ và các con của ông Đàm Thừa M). Các ông, bà Từ Tâm Á, Đàm Tổ K, Đàm Tổ T1 có người đại diện theo ủy quyền là bà Khê Hồng Hải Y, riêng bà Đàm Bích N có bản tự khai trình bày:

Về nguồn gốc nhà và đất tại địa chỉ số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cũng giống như ý kiến của nguyên đơn trình bày.

Về yêu cầu thì cũng giống như yêu cầu của ông Đàm Thừa M là xin được chia tài sản chung là căn nhà số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thành 02 phần riêng biệt, phía gia đình xin nhận 1/2 tài sản chung và được nhận hiện vật là toàn bộ phần diện tích căn nhà và đất số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, cũng đồng ý hoàn lại cho phía gia đình ông Đ, bà B phần giá trị chênh lệch.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đàm Ngọc P và trẻ Đàm Lê Y1 (là các con của ông Đàm Thừa Đ). Trẻ Đàm Lê Y1 có ông Đàm Thừa Đ và bà Lê Thu B là đại diện đương nhiên trình bày:

Về nguồn gốc nhà và đất tại địa chỉ số G D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cũng giống như ý kiến của phía bị đơn trình bày.

Bà P và bà Y1 thống nhất với ý kiến của ông Đàm Thừa Đ là yêu cầu chia căn nhà làm 3 phần bằng nhau cho 03 người là ông M, ông Đ và bà B.

Người làm chứng là bà Đàm Ngọc C có đơn tường trình (ngày 11 tháng 6 năm 2024) trình bày: Bà là con ruột của ông Đàm Quân Đ1 và bà Lưu Trọng L. Năm 1994, bà có nghe mẹ nói rằng là bà sẽ đổi căn nhà số E P C, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh để lấy căn nhà 7 D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho anh trai và em trai của bà là ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ. Bà và mọi người trong gia đình đều biết việc này và cũng không có ý kiến gì về quyết định của mẹ bà. Thời gian này thì bà đã lập gia đình, đã được mẹ cho một phần tài sản và ra ở riêng.

Sau khi hoán đổi, mẹ bà và ông Đàm Thừa Minh D về ở căn nhà số G D và thực hiện việc thờ cúng còn ông Đàm Thừa Đ thì ở căn nhà số G D. Khi mua 02 căn nhà này đã có vách tường chung ngăn thành 02 căn riêng biệt.

Bà có biết việc anh trai và em trai của bà có tranh chấp trong việc đề nghị phân chia nhà này, bà có ý kiến là bà không liên quan đến tranh chấp, không tham gia và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người làm chứng là bà Liêu Bình C1 có đơn xác nhận ngày 10 tháng 5 năm 2024 trình bày:

Bà là hàng xóm của ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ. Năm 1994, bà Lưu Trọng L và ông Đàm Thừa M về ở căn nhà số G D, còn gia đình ông Đàm Thừa Đ thì ở căn nhà số G D. Hai căn nhà này ở sát nhau, có vách chung, trong đường Hm. Thời điểm đó, bà có nghe bà Lưu Trọng L kể rằng trước đây bà có căn nhà số E Phó C, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, bà đã hoán đổi căn nhà này để lấy căn nhà 7 D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho 02 con trai Đàm Thừa M và Đàm Thừa Đ. Bà có biết ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đường K1 nói chuyện được với nhau về việc tách sổ căn nhà trên, nhưng không nhớ rõ là mâu thuẫn từ thời gian nào.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 401/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận 5 đã xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đàm Thừa M.

Xác định nhà, đất tọa lạc số G D, Phường A (nay là Phường A), Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ. Thống nhất phân chia cho ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ mỗi người nhận được ½ giá trị của toàn bộ căn nhà. Cụ thể, ông Đàm Thừa M được quyền sở hữu nguyên hiện trạng căn nhà số G D, ông Đàm Thừa Đ được quyền sở hữu nguyên hiện trạng căn nhà số G D.

Ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa, cấp giấy chứng nhận riêng biệt cho 02 căn nhà theo quy định của pháp luật.

2/ Buộc ông Đàm Thừa M phải hoàn lại cho ông Đàm Thừa Đ số tiền là 146.000.000 đồng (một trăm bốn mươi sáu triệu đồng) là phần giá trị diện tích chênh lệch ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3/ Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thu B về việc đề nghị được sở hữu 1/3 nhà, đất tọa lạc số 77/26-27 Dương Tử G với giá trị là 4.674.666.667 đồng (bốn tỷ sáu trăm bảy mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 07/10/2024 bà Lê Thu B kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thu B.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa y án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Không có chứng cứ nào chứng minh bà Lê Thu B là người đã nộp tiền thuế trước bạ, bà B cũng không xuất trình được bất kỳ chứng cứ nào chứng minh bà có đưa tiền để bà L hay ông M đi đóng tiền thuế. Hơn nữa, khi các bên chuyển về địa chỉ này sinh sống thì ông M là người trực tiếp thực hiện việc đi đăng ký sổ hộ khẩu, cụ thể:

Trong quá trình giải quyết vụ kiện cũng như quá trình xét xử, bà B cho là bà B đã đóng thuế đất từ năm 1994 cho đến năm 2018.

Tuy nhiên, bà B chỉ cung cấp được biên lai thuế đối với 5 năm (2011, 2014, 2015, 2016, 2017, 2018), với tổng số tiền là: 2.520.496 đồng (Hai triệu năm trăm hai mươi nghìn bốn trăm chín mươi đồng). Việc bà B đi đóng thuế là do bà có sử dụng tài sản chung với ông Đ nên bà B đại diện ông Đ thực hiện việc đóng thuế.

Hai căn nhà số G D, Phường A, Quận E, thành phố Hồ Chí Minh và số G D, Phường A, Quận E, thành phố Hồ Chí Minh, có lối đi ra hẻm độc lập, không liên quan đến nhau. Cả hai có hệ thống công trình phụ độc lập, riêng biệt, chỉ có tường chung (dày 20cm), đồng hồ điện nước riêng, hộ khẩu riêng cho nguyên đơn, bị đơn, chi phí sinh hoạt hay sửa chữa nhà cũng riêng.

Việc Tòa án nhân dân Quận 5 xác định nhà đất tọa lạc tại số G - B D, phường A (nay là Phường A), Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ là hoàn toàn hợp lý. Cụ thể, ông Đàm Thừa M được quyền sở hữu nguyên hiện trạng căn nhà số G D, ông Đàm Thừa Đ được quyền sở hữu nguyên hiện trạng căn nhà số G D.Vì những căn cứ và lý do trên và các quy định pháp luật, kính mong Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thu B, giữ nguyên quyết định tại bản án sơ thẩm.

Bị đơn giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại cấp sơ thẩm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thu B có ông Lê Lưu Duy T2 đại diện trình bày về việc bà Lê Thu B có nộp thuế nhà đất và có bỏ ra một số tiền là 05 lượng vàng để làm giấy tờ nhà số G D, Phường A (nay là Phường A), Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh nên đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà B về việc chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thu B được sở hữu 1/3 nhà, đất trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án Thành phố thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm đúng theo quy định tại Điều 270 Bộ Luật tố tụng dân sự; Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm đúng thời hạn quy định,Hồ sơ vụ án cũng đã được chuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu theo đúng quy định tại Điều 292 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nhận thấy, Tòa sơ thẩm đã tuyên phù hợp với các quy định tại khoản 1 Điều 216; khoản 1 Điều 224 Bộ luật dân sự, yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung của nguyên đơn phù hợp quy định pháp luật.

+ Về yêu cầu chia tài sản bằng hiện vật: căn cứ văn bản do Văn phòng Đ2 trả lời thì diện tích của 02 căn này đều đảm bảo quy định của nhà nước khi tách thửa. Do đó, cấp sơ thẩm tuyên giao hiện vật là có căn cứ.

Về diện tích thực tế, căn ông M đang sử dụng có chênh lệch hơn so với ông Đ 1,1m², tương đương số tiền 146.000.000 đồng, cấp sơ thẩm tuyên buộc ông M phải hoàn cho ông Đ là có cơ sở.

+ Đối với yêu cầu độc lập và kháng cáo của bà B đòi chia 1/3 giá trị nhà, do đứng tên chung cùng vị trí trong hợp đồng mua nhà và giấy chứng nhận nhà cùng ông Đ nên cũng là chủ sở hữu chung yêu cầu phải được chia tài sản. Nhận thấy, tại thời điểm mua nhà và đứng tên trên giấy chứng nhận, bà B được tham gia với tư cách là vợ, đang trong thời kỳ hôn nhân ông Đ, việc ghi tên bà B trên Hợp đồng mua bán nhà và giấy chứng nhận... chỉ thể hiện tình trạng hôn nhân của ông Đ, không nói lên tình trạng sở hữu tài sản của bà B. Bên cạnh đó, việc bà B cho rằng có góp tiền mua nhà nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh sự đóng góp này; việc đóng thuế đất cho nhà 77/26-27 cũng không đồng nghĩa với việc bà B là người có quyền sở hữu tài sản vì chính bà B thừa nhận bà nộp tiền thuế đất hàng năm là nộp thay cho ông M (khi đi nước ngoài hoặc bận việc) hoặc với tư cách là vợ ông Đ.

Bà B khai có công sức đóng góp tiền để mua nhà này, nhưng không có tài liệu chứng minh, về đóng thuế đất bà B cũng thanh toán cho chính bản thân căn 77/27 cho ông Đ và cả gia đình bà cùng sử dụng, bà B khai: tiền đưa để đóng thuế đất lúc ông M đóng, lúc của bà và ông Đ đóng, thì phần này là tài sản chung của ông M và ông Đ, bà là vợ ông Đ nên việc bà nộp thay cho ông Đ cũng phù hợp với nghĩa vụ ông Đ phải chịu khi sở hữu tài sản chung với ông M, vì vậy nội dung này không có căn cứ để chấp nhận. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà B, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn còn trong hạn luật định và hợp lệ, việc nộp tiền tạm ứng án phí là trong hạn luật định nên có căn cứ để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Sau khi nghe các bên trình bày yêu cầu và tranh luận, nhận thấy nhà và đất tọa lạc số G D, Phường A (nay là Phường A), Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn gốc là của Ông Đàm Quân Đ1, sinh năm 1925 (mất năm 1985) và bà Lưu Trọng L, sinh năm 1937 (mất năm 1985). Do bà L hoán đổi căn nhà số E P C, Phường A, Quận E của mình để lấy 02 căn nhà số G D, Phường A (nay là Phường A), Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ.

Bà Lê Thu B là vợ của ông Đàm Thừa Đ, là con dâu của bà L. Tại tòa phúc thẩm, đại diện người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Lê Thu B vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Xét thấy, người đại diện của bà B trình bày là bà B có bỏ ra số tiền trị giá 05 lượng vàng để làm giấy tờ nhà nhưng không đưa ra được chứng cứ nào khác để chứng minh bà B có bỏ ra số tiền nêu trên hoặc bà B được bà L cho 1/3 giá trị căn nhà hoặc có công sức đóng góp để tạo lập hoặc tôn tạo giữ gìn tài sản.

Thực chất căn nhà trên bà L chỉ cho hai con trai ruột là ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ. Tất cả các chứng cứ có trong hồ sơ đều thể hiện việc tặng cho nêu trên. Tại tòa phúc thẩm, đại diện cho bà B cũng như bị đơn không đưa ra được thêm chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu của mình.

Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thu B là đúng quy định của pháp luật. Do đó đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp và đúng quy định của pháp luật nghĩ nên chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Lê Thu B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26; Điều 70; Điều 147, 148 ; của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 214, Điều 216, Điều 224 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Căn cứ Điều 144 Luật đất đai 2013;

- Quyết định số 60/2017/QĐ-UBND ngày 05/12/2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc quy định về diện tích được tách thửa, quy định về tách thửa các loại đất ở.

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ Luật người cao tuổi;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Giữ nguyên bản án sơ thẩm,

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đàm Thừa M.

    Xác định nhà, đất tọa lạc số G D, Phường A (nay là Phường A), Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ. Thống nhất phân chia cho ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ mỗi người nhận được ½ giá trị của toàn bộ căn nhà. Cụ thể, ông Đàm Thừa M được quyền sở hữu nguyên hiện trạng căn nhà số G D, ông Đàm Thừa Đ được quyền sở hữu nguyên hiện trạng căn nhà số G D.

    Ông Đàm Thừa M và ông Đàm Thừa Đ được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa, cấp giấy chứng nhận riêng biệt cho 02 căn nhà theo quy định của pháp luật.

  2. Buộc ông Đàm Thừa M phải hoàn lại cho ông Đàm Thừa Đ số tiền là 146.000.000 đồng (một trăm bốn mươi sáu triệu đồng) là phần giá trị diện tích chênh lệch ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thu B về việc đề nghị được sở hữu 1/3 nhà, đất tọa lạc số 77/26-27 Dương Tử G với giá trị là 4.674.666.667 đồng (bốn tỷ sáu trăm bảy mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đàm Thừa M. H1 lại số tiền tạm ứng án phí là 46.000.000 đồng (bốn mươi sáu triệu đồng) do ông Đàm Thừa M đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AG/2014/0006772, ngày 25 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5.
    • - Ông Đàm Thừa Đ phải chịu 115.012.200 đồng (một trăm mười lăm triệu không trăm mười hai nghìn hai trăm đồng).
    • - Bà Lê Thu B phải chịu 112.674.667 đồng (một trăm mười hai triệu sáu trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà B đã nộp là 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0009782, ngày 23 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5. Bà Lê Thu B còn phải nộp số tiền 56.674.667 đồng (năm mươi sáu triệu sáu trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà lê Thu B phải chịu là 300.000 đồng được khấu trừ vào biên lai tạm ứng án phí đã nộp số 0036326 ngày 09/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 5.

  6. Về chi phí tố tụng:

    Tổng chi phí tố tụng là 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng), bao gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; thẩm định, định giá tài sản tranh chấp. Buộc ông Đàm Thừa M phải chịu 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), buộc ông Đàm Thừa Đ phải chịu 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Do ông Đàm Thừa M đã tạm ứng trước số tiền 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng), nên ông Đàm Thừa Đ có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Đàm Thừa M số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) này.

  7. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu mà người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên sẽ phải trả lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Tp HCM;
  • - VKSND Tp HCM;
  • - TAND Quận 5;
  • - Chi cục THADS Quận 5;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Nguyên Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2025/DS-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về chia tài sản chung

  • Số bản án: 199/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger