|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 198/2024/DS-PT Ngày: 15 - 4 - 2024 V/v Tranh chấp Tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thu
Bà Lê Thuý Cầu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 590/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2023/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L (tự là L1), sinh năm 1972. Trú tại: Số F, tổ E, khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1963. Trú tại: Tổ D, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Cụ Lê Thị R, sinh năm 1939 (chết ngày 13-5-2021). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Lê Thị R và cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị H1; ông Nguyễn Văn H; ông Lê Minh C; anh Lê Công T1; anh Lê Minh C1; bà Nguyễn Thị L2; bà Nguyễn Thị Đ; bà Nguyễn Thị D)
3.2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1958. Trú tại: Khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (có mặt).
3.3. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960. Trú tại: Số E, tổ B, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (có mặt).
3.4. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1963. Trú tại: Tổ D, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (có mặt).
3.5. Ông Lê Minh C, sinh năm 1966. Trú tại: Khu phố G, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (Chết ngày 11/10/2022).
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ: Anh Lê Công T1, sinh năm 1988. Trú tại: Số F, đường C, khu phố G, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh và anh Lê Minh C1, sinh năm 1990. Trú tại: Khu phố G, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (Anh T1, anh C1 có đơn xin vắng mặt).
3.6. Anh Lê Công T1, sinh năm 1988. Trú tại: Số F, đường C, khu phố G, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.7. Anh Lê Minh C1, sinh năm 1990. Trú tại: Khu phố G, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.8. Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1969; cư trú tại: Tổ D, đường G, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (có mặt).
3.9. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1974. Trú tại: Số nhà A, đường F, tổ D, ấp B, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, (có đơn xin vắng mặt).
3.10. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1977. Trú tại: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (có mặt).
3.11. Bà Hồ Thị H2, sinh năm 1958. Trú tại: Khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (có mặt).
3.12. Bà Trần Thị Minh T2, sinh năm 1965. Nơi đăng ký TT: Khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Tổ D, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (có mặt).
3.13. Anh Nguyễn Thành T3, sinh năm 1981 và chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1985. Nơi đăng ký TT: Khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Tổ D, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (vắng mặt).
3.14. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1960. Trú tại: Khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (văng mặt).
3.15. Ngân hàng TMCP Q (V2), địa chỉ trụ sở: Tầng A (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Thu H3, Giám đốc Trung tâm Q1 – Khối Ngân hàng Bán lẻ V2.(vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Thu H3: Ông Nguyễn Hải T4, Bà Đậu Thị Thủy T5, ông Huỳnh Văn K1, bà Trần Thị Ngân H4 - Cán bộ Ngân hàng (theo Văn bản ủy quyền ngày 12-5-2023).(Ông Nguyễn Hải T4, Bà Đậu Thị Thủy T5 có mặt).
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L; Nguyễn Thị H1; Nguyễn Thị Đ; anh Lê Công T1; bà Nguyễn Thị L2; Nguyễn Thị D; Ngân hàng TMCP Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 6 năm 2019, đơn sửa đổi nội dung đơn khởi kiện ngày 08 tháng 8 năm 2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 10 tháng 02 năm 2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L:
Cha, mẹ bà là cụ Nguyễn Văn T6, sinh năm 1939, chết năm 2017 và cụ Lê Thị R, sinh năm 1939; hai cụ chung sống có 08 người con, gồm: Ông Nguyễn Văn T; bà Nguyễn Thị H1; ông Nguyễn Văn H; bà Nguyễn Thị H5, chết, có chồng tên Lê Minh C và hai người con tên Lê Công T1 và Lê Minh C1; bà Nguyễn Thị L2; bà Nguyễn Thị L; bà Nguyễn Thị Đ; bà Nguyễn Thị D. Khi cụ T6 chết không để lại di chúc; hai cụ không có con riêng, con nuôi.
Cha mẹ bà được ông bà nội tặng cho hơn 02 ha đất tại các thửa số 10, 18, 32, 45, 46, 47, 48, 56, 57, 59, 319, 341, 369, 392, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCN QSDĐ). Khi cụ T6 còn sống thì trực tiếp quản lý, canh tác và chưa chia đất cho ai. Anh, chị, em trong gia đình lớn lên có gia đình ra sống riêng, còn lại cha mẹ sống với nhau; năm 2017 cụ T6 chết, ông H về sống chung chăm sóc, phụng dưỡng cho cụ R; đất của cha mẹ, vợ chồng ông H quản lý, canh tác và lén lút đăng ký và được cấp GCN QSDĐ, không ai biết, năm 2013 ông H tách cho ông T khoảng 19 cao đất (1.900 m²), diện tích còn lại ông H, bà T2 quản lý, sử dụng. Bà L khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T6 chết để lại tại các thửa số 319, 341, 369, 392, tờ bản đồ số 20 theo quy định của pháp luật và yêu cầu chia diện tích 20 cao (2.000 m²).
Tại đơn sửa đổi nội dung đơn khởi kiện ngày 08-8-2020, bà L trình bày: Ông nội bà là kỵ Nguyễn Văn M, sinh năm 1907, chết năm 1988 và kỵ Phạm Thị M1, chết năm 1980; hai kỵ có 01 người con chung là cha bà cụ Nguyễn Văn T6. Kỵ M có 02 người con riêng là cụ Nguyễn Thị C2 và Nguyễn Thị T7; cụ C2 và chồng tên Nguyễn Văn K2 đều đã chết, hai cụ có 10 người con, gồm: Bà Nguyễn Thị T8, Nguyễn Thị C3, Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị C4, Nguyễn Thị T9, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị H7, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị L3 (H), Nguyễn Thị H8. Đối với cụ T7 không biết còn sống hay đã chết và không biết hiện nay cư trú tại đâu. Kỵ M, kỵ Màu chết, để lại 14.418,40 m², tại các thửa số 319, 369, 392, 876, 877, tờ bản đồ số 20 và căn nhà ngói trên đất; nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng của người khác trước năm 1975, hiện nay vợ chồng ông H quản lý, sử dụng. Bà L yêu cầu chia di sản thừa kế của kỵ Mừng, kỵ Màu chết để lại diện tích 14.418,40 m² theo quy định của pháp luật và yêu cầu chia cho mỗi người diện tích 20 cao (2.000 m²); tài sản trên đất không yêu cầu giải quyết. Tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, bà L thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, cho rằng diện tích 14.418,40 m², là di sản thừa kế của cụ T6 chết để lại và yêu cầu chia theo quy định của pháp luật.
Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 10-02-2022, bà L trình bày: Trước đây bà khởi kiện yêu cầu chia thừa kế của cụ T6; ngày 13-5-2021 mẹ bà là cụ Lê Thị R đã chết, nên bà yêu cầu chia di sản thừa kế diện tích 16.403,40 m² của cha mẹ chết để lại theo quy định của pháp luật.
Bị đơn, ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông thống nhất về quan hệ huyết thống giữa ông bà, cha mẹ và anh, chị, em như bà L trình bày.
Ông nội ông tên Nguyễn Văn M, chết năm 1988; bà nội tên Phạm Thị M1, chết năm 1987. Ông bà nội chung sống không có con chung, nên xin cha ông là Nguyễn Văn T6 về làm con nuôi từ khi còn nhỏ. Khi đang sống với bà nội, thì ông nội chung sống với kỵ Võ Thị V1, sinh được có 02 người con riêng tên Nguyễn Thị C2 (chết) và chồng tên Nguyễn Văn K2 (chết), hai cụ sống có con chung, nhưng không biết tên, đang cư trú tại đâu và người thứ hai tên Nguyễn Thị T7, sống tại ấp A, xã A, huyện T, nhưng sau đó bỏ đi khỏi địa phương cho đến nay đã hơn 30 năm, không biết còn sống hay đã chết.
Ông bà nội có phần đất khoảng 02 ha sang nhượng của người khác, nên điều kiện sinh sống cha mẹ ông phụ thuộc vào ông, bà nội. Năm 1983, ông cưới vợ và cũng trong khoảng thời gian này, kỵ M tặng cho đất cụ C2, cụ T7 mỗi người khoảng 20 cao (2.000 m²), diện tích còn lại kỵ Mừng, kỵ Màu bán cho vợ chồng ông, trên đất có căn nhà ngói và giao lại bản chính giấy tờ đất đã sang nhượng của người khác trước đó và giao đất cho vợ chồng ông quản lý, canh tác từ đó cho đến nay. Vợ chồng ông sống chung và trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc ông bà, cha mẹ cho đến khi ông, bà và cha ông chết.
Sau khi nhận chuyển nhượng đất, ông đi kê khai, đăng ký và được Ủy ban nhân dân (viết UBND) huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Tây Ninh cấp GCN QSDĐ ngày 20-01-1994, diện tích 12.254 m², tại các thửa số 1860, 1861, 1862, 1863, tờ bản đồ số 3 và thửa số 3277, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh do ông đứng tên. Ông không biết, không quản lý, không sử dụng và không đứng tên diện tích tại các thửa số 10, 18, 32, 45, 46, 47, 48, 56, 57, 59, tờ bản đồ số 20, như bà L và chị em khác đã trình bày và yêu cầu chia thừa kế. Trong quá trình quản lý, sử dụng đất, vợ chồng ông đã xây nhà ở kiên cố và nhiều công trình phụ khác; đầu tư trồng nhiều loại cây ăn quả như xoài, bưởi, mít, mận, cà na... và trồng vườn hoa lan để kinh doanh; năm 2005 vợ chồng ông chuyển nhượng cho ông B một phần đất, nhưng cha mẹ, anh chị em không ai phản đối, ngăn cản. Năm 2010, vợ chồng ông làm thủ tục cấp lại GCN QSDĐ được cụ T6, cụ R, ông T, bà H1 đồng ý và được UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp lại 03 GCN QSDĐ ngày 11-3-2010, diện tích 16.646,40 m², tại các thửa số 319, 369, 392, 877 và thửa 876, tờ bản đồ số 20, do ông và vợ là bà Trần Thị Minh T2 đứng tên; năm 2013, vợ chồng ông tiếp tục chuyển nhượng cho ông T một phần đất cha mẹ, anh chị em cũng không ai phản đối, ngăn cản. Diện tích 16.646,40 m², bà L yêu cầu chia thừa kế là tài sản của vợ chồng ông nhận chuyển nhượng và quản lý, sử dụng từ năm 1983, không phải là di sản thừa kế, nên ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà L.
Ông đồng ý với kết quả đo đạc; đối với tài sản theo chứng thư thẩm định giá là chưa đầy đủ, còn thiếu giếng khoan và một số loại cây trồng khác trên đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
Cụ Lê Thị R (khi còn sống): Tại đơn khởi kiện yêu cầu độc lập ngày 27-6-2019 cụ R trình bày: Cụ và cụ T6 là vợ chồng chung sống sinh được 08 người con như bà L trình bày. Vợ chồng cụ được cha mẹ chồng tặng cho hơn 02 ha đất do vợ chồng cụ quản lý, canh tác; năm 2017 cụ T6 chết, ông H về quản lý, sử dụng và lén lút đăng ký quyền sử dụng diện tích đất trên, sau đó ông H tặng cho ông T diện tích khoảng 19 cao (1.900 m²). Cụ R yêu cầu chia di sản thừa kế tại các thửa số 10, 18, 32, 45, 46, 47, 48, 56, 57, 59, 319, 341, 369, 392, tờ bản đồ số 20 của cụ T6 chết để lại theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 21-9-2020, cụ R (chết ngày 13-5-2021) trình bày: Cha mẹ chồng cụ là kỵ M và kỵ Màu, chung sống có một người con là Nguyễn Văn T6 chồng cụ. Kỵ M có hai người con riêng tên Nguyễn Thị C2, đã chết và Nguyễn Thị T7 không rõ địa chỉ. Khi còn sống kỵ M có chia đất cho cụ C2, cụ T7 mỗi người 25 cao (2.500 m²); sau khi cha mẹ chồng chết để lại cho hai cụ diện tích 16.403,40 m², nhưng ông H, bà T2 quản lý, sử dụng; cụ R yêu cầu chia di sản thừa kế kỵ Mừng, kỵ Màu chết để lại theo quy định của pháp luật làm 07 phần; cụ yêu cầu được chia 20 cao (2.000 m²). Tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, cụ R thay đổi yêu cầu khởi kiện, diện tích đất tranh chấp 16.403,40 m² là tài sản của vợ chồng cụ, không phải của cha mẹ chồng, chồng cụ đã chết nên yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T6 theo quy định của pháp luật.
Bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị L2, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị D: Tại đơn khởi kiện yêu cầu độc lập ngày 26-6-2019, ngày 05-7-2019 bà H1, bà L2, bà Đ, bà D trình bày: Các bà thống nhất về quan hệ huyết thống giữa ông bà nội, cha mẹ, anh, chị em và tài sản tranh chấp như bà L trình bày. Năm 2016 cụ T6 chết, ông H về sống chung chăm sóc cụ R, vợ chồng ông H quản lý, sử dụng phần đất của cha mẹ, lén lút đăng ký để cấp giấy, chị em không ai biết; các bà yêu cầu chia thừa kế của cụ T6 tại các thửa số 10, 18, 32, 45, 46, 47, 48, 56, 57, 59, 319, 341, 369, 392, tờ bản đồ số 20, bà H1, bà L2, bà D yêu cầu chia diện tích 10 cao (1.000 m²); bà Đ yêu cầu diện tích 20 cao (2.000 m²).
Tại bản tự khai ngày 10-9-2020, ngày 21-9-2020, bà H1, bà L2, bà Đ, bà D trình bày: Ông bà nội có cha các bà là cụ T6 con trai duy nhất. Sau khi ông bà nội chết có để lại phần đất 16.403,40 m², tại các thửa số 319, 369, 392, 876, 877, tờ bản đồ số 20 cho cụ T6, cụ R quản lý, sử dụng; năm 2016 cụ T6 chết, ông H về sống chung cụ R và tự ý đăng ký và được cấp GCN QSDĐ; khi giải quyết tranh chấp tại địa phương, ông T đồng ý chia thừa kế của ông bà nội. Bà H1, bà L2, bà Đ, bà D yêu cầu chia di sản thừa kế diện tích 16.403,40 m² của kỵ Mừng, kỵ Màu làm 07 phần, bà H1, bà L2, bà Đ yêu cầu chia 20 cao (2.000 m²), bà D yêu cầu chia 18 cao (1.800 m²). Quá trình giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, bà H1, bà L2, bà Đ, bà D trình bày, diện tích 16.403,40 m² là tài sản của cha bà cụ Thân chết để lại và thay đổi yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ T6 theo quy định của pháp luật.
Tại đơn khởi kiện bổ sung cùng ngày 10-02-2022 bà H1, bà L2, bà Đ, bà D trình bày: Cụ T6, cụ R có tài sản chung diện tích 16.403,40 m², ngày 13-5-2021 cụ R chết không để lại di chúc, nên các bà yêu cầu chia di sản thừa kế diện tích đất trên theo quy định của pháp luật.
Anh Lê Công T1: Tại đơn khởi kiện yêu cầu độc lập ngày 08-7-2019 anh T1 trình bày: Anh thống nhất về quan hệ huyết thống giữa ông bà cố, ông bà ngoại, các cậu, dì và tài sản tranh chấp như bà H1, bà L2, bà L, bà Đ, bà D trình bày. Mẹ anh tên Nguyễn Thị H5, sinh năm 1964, chết ngày 01-5-2012; cha anh tên Lê Minh C, sinh năm 1966 và có 02 người con là anh và Lê Minh C1, sinh năm 1990. Ông bà ngoại có diện tích đất khoảng 02 ha. Năm 2017, ông ngoại anh chết thì ông H về sống chung chăm sóc bà ngoại và quản lý, sử dụng đất của ông bà, sau đó ông H lén lút đăng ký. Anh yêu cầu được hưởng di sản thừa kế của ông ngoại anh chết để lại diện tích 20 cao, tại các thửa số 10, 18, 32, 45, 46, 47, 48, 56, 57, 59, 319, 341, 369, 392, tờ bản đồ số 20.
Tại bản tự khai ngày 10-9-2019, anh T1 trình bày: Diện tích đất 16.403,40 m², tại các thửa số 319, 369, 392, 876, 877, tờ bản đồ số 20 là của ông bà cố là kỵ Mừng, kỵ Màu cho ông bà ngoại anh quản lý, sử dụng; năm 2016 ông ngoại anh chết, ông H về sống chung với bà ngoại và tự ý đăng ký QSDĐ; anh yêu cầu chia di sản thừa kế diện tích đất trên của ông bà cố để lại cho mẹ anh một phần, yêu cầu được chia 20 cao (2.000 m²). Quá trình giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, anh T1 yêu cầu chia thừa kế diện tích 16.403,4 m² của ông ngoại anh chết để lại.
Tại đơn khởi kiện bổ sung cùng ngày 10-02-2022 anh T1 trình bày: Diện tích đất 16.403,40 m² là tài sản cụ T6, cụ R đã chết (cụ R chết ngày 13-5-2021) và yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị Minh T2 trình bày: Bà là vợ của ông H. Bà thống nhất với lời trình bày của ông H về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất. Diện tích đất tranh chấp là tài sản của vợ chồng bà, không phải là di sản thừa kế của cha mẹ để lại như bà L trình bày. Đối với kết quả đo đạc và thẩm định giá tài sản, bà thống nhất theo lời trình bày của ông H.
Vợ chồng có thế chấp GCN QSDĐ thửa số 319, tờ bản đồ 20, diện tích 3.103,30 m² để bảo lãnh cho con là anh Nguyễn Thành T3 và chị Nguyễn Thị Thanh N vay tại Ngân hàng TMCP Q (viết Ngân hàng) số tiền 2.900.000.000 đồng, đến nay chưa đến hạn trả nợ. Đối với 02 GCN QSDĐ còn lại, bà thế chấp cho bà K từ 2013 cho đến nay để vay số tiền 1.000.000.000 đồng, vợ chồng bà chưa trả được nợ để lấy GCN QSDĐ về.
Ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông thống nhất về quan hệ huyết thống giữa ông bà nội, cha mẹ và anh, chị em như bà L khai. Cha mẹ ông không tạo lập được tài sản gì cả, phần đất tranh chấp khoảng 02 ha có nguồn gốc của ông bà nội ông là kỵ Mừng, kỵ M1; vợ chồng ông H sống chung với cha mẹ và ông bà nội; sau khi ông bà nội chết, ông có gia đình riêng cha mẹ cho phần đất cất nhà ở nhưng không làm giấy; tại thời điểm này ông được biết ông H đứng tên diện tích đất của ông bà nội để lại, còn vì sao ông H đứng tên giấy đất ông không biết. Do ông H đứng tên GCN QSDĐ, nên vợ chồng ông làm thủ tục sang nhượng đất lại với ông H, giá bao nhiêu ông không nhớ; diện tích còn lại vợ chồng ông H quản lý, sử dụng từ đó cho đến nay. Trước đây bà L khởi kiện ông H yêu cầu chia di sản thừa kế của cha là cụ T6, sau đó thay đổi yêu cầu chia di sản thừa kế của ông bà nội là kỵ Mừng, kỵ Màu ông không biết. Ông không tranh chấp, không yêu cầu chia di sản thừa kế diện tích đất ông H, bà T2 được cấp GCN QSDĐ và đang quản lý, sử dụng. Nếu xác định diện tích đất trên là di sản thừa kế và được chia theo quy định của pháp luật thì ông xin nhận một phần như chị em khác.
Bà Hồ Thị H2 trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Văn T. Diện tích đất hiện nay vợ chồng bà đang sinh sống do nhận sang nhượng của ông H cách nay khoảng 20 năm, nhưng mới làm thủ tục tách giấy cho vợ chồng bà đứng tên khi cha mẹ chồng còn sống, nhưng không ai có ý kiến gì. Việc tranh chấp di sản thừa kế giữa bà L với ông H do chồng bà quyết định, bà không có ý kiến.
Ông Lê Minh C trình bày: Ông là chồng của bà Nguyễn Thị H5, chết năm 2012. Ông và bà H5 chung sống có 02 người con tên Lê Công T1 và Lê Minh C1. Cha mẹ vợ ông là cụ T6, cụ R có phần đất khoảng 16.000 m² nhưng do ông H quản lý, sử dụng không chia cho chị, em gái, do đó yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế diện tích đất trên theo quy định của pháp luật, trong đó vợ ông được hưởng một phần, bà H5 chết nên các con ông được hưởng phần di sản này.
Anh Lê Minh C1 trình bày: Anh là con của bà Nguyễn Thị H5 và ông Lê Minh C, mẹ anh chết ngày 01-5-2012; cha mẹ anh chung sống có 02 người con là Lê Công T1 và anh. Việc tranh chấp di sản thừa kế của bà L với ông H do anh T1 quyết định, anh không có ý kiến.
Bà Nguyễn Thị K trình bày: Năm 2013, ông H, bà T2 có thế chấp diện tích đất 6.237,10 m², tại các thửa số 369, 392, 876, 877, tờ bản đồ số 20, được cấp GCN QSDĐ năm 2010; GCN QSDĐ này bà không giữ mà chỉ đứng làm trung gian để ông H, bà T2 vay tiền của người khác; khi nào ông H, bà T2 trả đủ tiền thì trả lại GCN QSDĐ, không tranh chấp gì trong vụ án này.
Anh Nguyễn Thành T3, chị Nguyễn Thị Thanh N trình bày: Anh, chị được cha mẹ là ông H, bà T2 thế chấp GCN QSDĐ để bảo lãnh vay tại Ngân hàng số tiền 2.900.000.000 đồng bằng 02 hợp đồng tín dụng, 01 hợp đồng vay thời hạn 09 năm, 01 hợp đồng vay thời hạn 15 năm bằng hình thức trả dần hàng tháng, mục đích vay tiền để trồng bưởi, hoa lan. Từ khi vay tiền cho đến trước khi Ngân hàng nhận được văn bản của Tòa án yêu cầu tham gia vì có liên quan đến thửa đất tranh chấp đang thế chấp, anh chị không vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Sau đó, Ngân hàng niêm phong tài khoản của anh T3, không cho trả tiền lãi và nợ gốc, lý do tài sản bảo lãnh đang bị tranh chấp. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, anh chị không đồng ý, vì anh chị không có lỗi và chưa đến hạn theo hợp đồng.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP Q, anh Nguyễn Trường L4 trình bày: Ngân hàng có ký với anh Nguyễn Thành T3 và chị Nguyễn Thị Thanh N các hợp đồng tín dụng như sau: Hợp đồng tín dụng số: 7271375.21, ngày 19-01-2021 cho anh T3, chị N vay 2.000.000.000 đồng, thời hạn vay 180 tháng; mục đích vay để sửa chữa nhà ở và mua sắm vật dụng gia đình; Hợp đồng tín dụng số: 8480523.21, ngày 19-01-2021 cho anh T3, chị N vay 900.000.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng; mục đích vay tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình; Hợp đồng tín dụng số: 2359044.20, ngày 21-12-2020 cho anh T3, chị N vay 600.000.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng; mục đích vay để mua xe ô tô. Khi anh T3, chị N vay 2.900.000.000 đồng của 02 hợp đồng tín dụng ký ngày 19-01-2021, ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Minh T2 có thế chấp thửa đất số 319, tờ bản đồ số 20, diện tích 3.103,30 m², tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho Ngân hàng để bảo lãnh số nợ trên. Thửa đất thế chấp cho Ngân hàng để bảo lãnh đang bị tranh chấp trong vụ án chia di sản thừa kế, là vi phạm điều khoản thỏa thuận giữa hai bên. Tính đến ngày 23-5-2023, anh T3, chị N nợ tiền gốc là 2.934.847.120 đồng, nợ tiền lãi trong hạn 82.724.129 đồng, nợ tiền lãi quá hạn 307.128.857 đồng, tổng cộng 3.324.700.106 đồng. Do anh T3, chị N vi phạm hợp đồng nên Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh T3, chị N trả số tiền gốc, tiền lãi như trên và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng cho đến khi trả xong nợ. Trường hợp anh T3, chị N không thực hiện trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2023/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định:
Căn cứ các Điều 696 của Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 692 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 5 Điều 70, các Điều 91, 147, 153, 157, 161, 165, 477; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập, gồm: Bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị L2, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị Dvà anh Lê Công T1, về việc chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn T6 và cụ Lê Thị R đối với diện tích đo đạc thực tế 14.547,60 m², tại các thửa số 319, 876, 1026 (tách ra từ thửa số 876), 369, 392, 877, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Tây Ninh cấp 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 082370, số BA 082371 và số BA 082372, ngày 11-3-2010 do ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Minh T2 đứng tên.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Q yêu cầu anh Nguyễn Thành T3 và chị Nguyễn Thị Thanh N thanh toán nợ trước thời hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký ngày 19-01-2021 và ngày 21-12-2020 để trả Ngân hàng số tiền tổng cộng tính đến ngày 23-5-2023 là 3.324.700.106 đồng (ba tỷ, ba trăm hai mươi bốn triệu, bảy trăm nghìn, một trăm lẻ sáu đồng).
Anh Nguyễn Thành T3 và chị Nguyễn Thị Thanh N có nghĩa vụ trả tiền vay, tiền lãi cho Ngân hàng TMCP Q theo thỏa thuận của các Hợp đồng tín dụng số: 7271375.21 và số: 8480523.21 ngày 19-01-2021 và Hợp đồng tín dụng số: 2359044.20 ngày 21-12-2020.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 6837493.21.668 ngày 21-01-2021, giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Minh T2 thế chấp thửa đất số 319, tờ bản đồ số 20, diện tích 3.103,30 m², tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho Ngân hàng tiếp tục để bảo lãnh các Hợp đồng tín dụng số: 7271375.21 và số: 8480523.21 ngày 19-01-2021 giữa Ngân hàng TMCP Q với anh Nguyễn Thành T3 và chị Nguyễn Thị Thanh N.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định
Ngày 20/9/2023, bà Nguyễn Thị L; Nguyễn Thị H1; Nguyễn Thị Đ; anh Lê Công T1; bà Nguyễn Thị L2; Nguyễn Thị D kháng cáo Bản án, yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Ngày 22/9/2023, Ngân hàng TMCP Q kháng cáo Bản án, yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của Ngân hàng.
Tại phiên toà phúc thẩm,
Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị đơn đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau: Sau khi phân tích các chứng cứ và yêu cầu của người khởi kiện, nội dung kháng cáo đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của các đương sự trong vụ án nộp trong hạn luật định, có đóng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo là hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm. Quan hệ pháp luật đang tranh chấp là Tranh chấp chia thừa kế và trong vụ án có đương sự ở nước ngoài nên thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh theo quy định tại Điều 26, Điều 34, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung
[2]. Cụ Nguyễn Văn T6 và cụ Lê Thị R chung sống có 08 người con, gồm: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1958; bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960; ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1963, bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1964, chết ngày 01-5-2012 (có chồng tên Lê Minh C, sinh năm 1966 và hai người con tên Lê Công T1, sinh năm 1988 và Lê Minh C1, sinh năm 1990). Nay ông C chết thì anh T1 và anh C1 là người thừa kế quyền và nghĩa vụ của Bà H5 và ông C); bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1969; bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972; bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1974; bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1977. Hai cụ không có con riêng, con nuôi, những người có tên thuộc hàng thừa kế thứ nhất và thừa kế thế vị của cụ T6, cụ cụ R theo quy định của pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị L; Nguyễn Thị H1; Nguyễn Thị Đ; anh Lê Công T1; bà Nguyễn Thị L2; Nguyễn Thị D, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1]. Ngày 03-6-2019, bà Nguyễn Thị L là nguyên đơn và các ngày 26-6, 27-6, 05-7, 08-7-2019 những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, gồm: Cụ Lê Thị R, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị L2, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị D và anh Lê Công T1 (con bà Nguyễn Thị H5 đã chết) yêu cầu chia di sản thừa kế diện tích hơn 02 ha, tại các thửa số 10, 18, 32, 45, 46, 47, 48, 56, 57, 59, 319, 341, 369, 392, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh, đất chưa được cấp GCN QSDĐ của cụ T6 chết để lại theo quy định của pháp luật. Tại đơn sửa đổi nội dung đơn khởi kiện ngày 08-8-2020 của bà L và các ngày 10-9, 21-9-2020 những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập trình bày: Kỵ Nguyễn Văn M, sinh năm 1907, chết năm 1988 và kỵ Phạm Thị M1, chết năm 1980 là cha mẹ cụ T6. Hai kỵ chết để lại diện tích đất 14.418,40 m², tại các thửa số 319, 369, 392, 876, 877, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh, do vợ chồng ông H quản lý, sử dụng. Do đó, cụ R yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ chồng; bà L, bà H1, bà L2, bà Đ, bà D, anh T1 con bà H5 yêu cầu chia di sản thừa kế của ông bà nội chết để lại theo quy định của pháp luật và yêu cầu chia cho mỗi người diện tích 20 cao (2.000 m²); tài sản trên đất không tranh chấp.
[3.2]. Theo Biên bản đo vẽ hiện trạng đất tranh chấp có diện tích là 14.547,60 m² tại các thửa số 319, 876, 1026 (tách ra từ thửa số 876), 369, 392, 877, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Tây Ninh cấp 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 082370, số BA 082371 và số BA 082372, ngày 11-3-2010 do ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Minh T2 đứng tên và ông H, bà T2 liên tục quản lý, sử dụng từ năm 1990 cho đến nay là có xảy ra trên thực tế.
[3.3]. Ngày 21-01-2010, ông H, bà T2 làm thủ tục đề nghị cấp đổi GCN QSDĐ đối với diện tích đất được cấp giấy năm 1994 và được UBND xã A xác nhận; ngày 22-01-2010, cụ T6, cụ R ký “Giấy ủy quyền”, xác định: “...Đất này trước đây từ năm 1965 của tôi Nguyễn Văn T6 cho đến năm 1990 tôi giao lại cho con tôi là Nguyễn Văn H quản lý sử dụng cho đến nay... Vậy nay vợ chồng tôi và các con tôi đồng ý thỏa thuận cho con trai tôi là Nguyễn Văn H được trọn quyền đăng ký sử dụng phần đất nói trên”. Giấy ủy quyền này còn có ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H1 cùng ký xác nhận; khi giải quyết vụ án tại Tòa án, ông T thừa nhận ông cùng cụ T6, cụ R, bà H1 ký giấy ủy quyền, thỏa thuận cho ông H được trọn quyền đăng ký, sử dụng phần đất nói trên. Ngày 11-3-2010, ông H, bà T2 được UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp đổi lại 03 GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
[3.4]. Sau khi được cấp lại GCN QSDĐ, ngày 30-7-2013, ông H, bà T2 ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ cho ông Nguyễn Văn T và bà Hồ Thị H2 diện tích 1.985 m²; ngày 15-11-2013 ông T, bà H2 được UBND huyện T cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 1027 (tách ra từ thửa số 876), tờ bản đồ số 20; bà H1, bà L2, bà L, bà Đ, bà D cũng không ai tranh chấp.
[3.5]. Tuy kết quả giám định không xác định được chữ ký của Nguyễn Thị H1 trong giấy uỷ quyền do chữ ký Hui trên tài liệu có dạng đơn giản, chữ ký trên các tài liệu mẫu so sánh có sau, thời gian cách xa chữ ký cần giám định, thể hiện ít đặc điểm cá biệt nhưng tại các bút lục 263, 271, 274, 277, 280, bà H1, bà L2, bà L, bà Đ, bà D khai: “Do diện tích đất tranh chấp trước khi ông H đứng tên thì bà C2, bà T7 (con riêng của kỵ M) đã khởi kiện yêu cầu cha tôi chia cho, nhưng cha tôi không chịu vì khi ông, bà nội tôi khi còn sống đã chia đất cho các cô xong rồi. Vì sợ bà C2, bà T7 tranh chấp, nên cha tôi mới để cho ông H đứng tên diện tích đất ông, bà nội đã cho cha, mẹ tôi” nên có căn cứ xác định bà H1 biết việc cụ T6 đồng ý cho ông H đăng ký kê khai để được cấp quyền sử dụng đất đang tranh chấp.
[3.6]. Ông H, bà T2 quản lý, sử dụng diện tích đất đang tranh chấp từ năm 1990, có nguồn gốc của kỵ M, kỵ Màu chết để lại và được cụ T6 đồng ý để cho ông H kê khai, đăng ký và được cấp GCN QSDĐ ngày 20-01-1994; sau đó ông H, bà T2 được cấp đổi lại 03 GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 11-3-2010. Đồng thời, khi giải quyết vụ án nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập không xác định được tài sản tranh chấp là của ông bà nội là kỵ M, kỵ Màu hay của cha là cụ T6; cụ R khi còn sống cũng không xác định tài sản tranh chấp là của vợ chồng cụ hay của cha mẹ chồng, do đó bà H1, bà L2, bà L, bà Đ, bà D, anh T1 con bà H5 (chết) có lúc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T6, có lúc lại yêu cầu chia di sản thừa kế của kỵ Mừng, kỵ Màu. Tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, các đương sự tiếp tục thay đổi nội dung khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T6, ngày 13-5-2021 cụ R chết đương sự yêu cầu chia thừa kế của cha mẹ chết để lại theo quy định của pháp luật nên bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngày 19-01-2021, Ngân hàng ký các hợp đồng tín dụng với anh Nguyễn Thành T3 và chị Nguyễn Thị Thanh N, gồm: Hợp đồng tín dụng số: 7271375.21, anh T3, chị N vay 2.000.000.000 đồng, thời hạn vay 180 tháng; Hợp đồng tín dụng số: 8480523.21, anh T3, chị N vay 900.000.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng. Khi anh T3, chị N vay số tiền 2.900.000.000 đồng, ông H, bà T2 ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 6837493.21.668 ngày 21-01-2021 thế chấp thửa đất số 319, tờ bản đồ số 20, diện tích 3.103,30 m², tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho Ngân hàng để bảo lãnh số nợ trên. Trước đó, ngày 21-12-2020 anh T3, chị N ký Hợp đồng tín dụng số: 2359044.20, vay của Ngân hàng TMCP Q số tiền 600.000.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng.
Các hợp đồng tín dụng vay tiền được ký kết giữa Ngân hàng với anh T3, chị N chưa đến hạn thanh toán. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T3, chị N thanh toán tiền vay, tiền lãi đúng định kỳ theo thỏa thuận; ngày 06-10-2022, khi Ngân hàng có đơn yêu cầu độc lập anh T3, chị N vẫn thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Sau đó Ngân hàng niêm phong tài khoản của anh T3 nên anh T3, chị N không chuyển khoản trả nợ được cho Ngân hàng nên Ngân hàng yêu cầu thanh toán tiền vay, tiền lãi trước hạn do tài sản thế chấp bị tranh chấp sẽ gây khó khăn cho anh T3, chị N và đây không phải lỗi cố ý của anh chị và của ông H, bà T2. Hơn nữa, yêu cầu khởi kiện tranh chấp về thừa kế tài sản của nguyên đơn đối với quyền sử dụng đất của ông H, bà T2 trong đó có diện tích thế chấp cho Ngân hàng không được Tòa án chấp nhận, nên thửa đất số 319, tờ bản đồ số 20, diện tích 3.103,30 m² vẫn là tài sản thế chấp đảm bảo nghĩa vụ thanh toán nợ cho 02 hợp đồng tín dụng giữa anh T3, chị N với Ngân hàng ký ngày 19-01-2021 nên Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Q yêu cầu anh T3, chị N thanh toán nợ trước thời hạn là có căn cứ nên không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q.
[5]. Như đã phân tích từ đoạn [3.1] đến đoạn [3.6], bà Nguyễn Thị L; Nguyễn Thị H1; Nguyễn Thị Đ; anh Lê Công T1; bà Nguyễn Thị L2; Nguyễn Thị Dkháng cáo yêu cầu chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố nhưng không cung cấp chứng cứ xác định cụ Nguyễn Văn T6 và kỵ Nguyễn Văn M, kỵ Phạm Thị M1 có để lại di sản nhằm làm thay đổi nội dung vụ án nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo yêu cầu chia thừa kế cũng như phân tích tại đoạn [4] không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q về việc thu hồi nợ trước hạn mà chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh là giữ nguyên án sơ thẩm.
[6]. Các đương sự kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm. Án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng các đương sự phải chịu như án sơ thẩm đã tuyên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị L; Nguyễn Thị H1; Nguyễn Thị Đ; anh Lê Công T1; bà Nguyễn Thị L2; Nguyễn Thị D và Ngân hàng TMCP Q. Giữ nguyên Bản án số 40/2023/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ các Điều 696 của Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 692 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự 2015. khoản 5 Điều 70, các Điều 91, 147, 153, 157, 161, 165, 477; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập, gồm: Bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị L2, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị Dvà anh Lê Công T1, về việc chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn T6 và cụ Lê Thị R đối với diện tích đo đạc thực tế 14.547,60 m², tại các thửa số 319, 876, 1026 (tách ra từ thửa số 876), 369, 392, 877, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Tây Ninh cấp 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 082370, số BA 082371 và số BA 082372, ngày 11-3-2010 do ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Minh T2 đứng tên.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Q yêu cầu anh Nguyễn Thành T3 và chị Nguyễn Thị Thanh N thanh toán nợ trước thời hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký ngày 19-01-2021 và ngày 21-12-2020 để trả Ngân hàng số tiền tổng cộng tính đến ngày 23-5-2023 là 3.324.700.106 đồng (ba tỷ, ba trăm hai mươi bốn triệu, bảy trăm nghìn, một trăm lẻ sáu đồng).
Anh Nguyễn Thành T3 và chị Nguyễn Thị Thanh N có nghĩa vụ trả tiền vay, tiền lãi cho Ngân hàng TMCP Q theo thỏa thuận của các Hợp đồng tín dụng số: 7271375.21 và số: 8480523.21 ngày 19-01-2021 và Hợp đồng tín dụng số: 2359044.20 ngày 21-12-2020.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 6837493.21.668 ngày 21-01-2021, giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Minh T2 thế chấp thửa đất số 319, tờ bản đồ số 20, diện tích 3.103,30 m², tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho Ngân hàng tiếp tục để bảo lãnh các Hợp đồng tín dụng số: 7271375.21 và số: 8480523.21 ngày 19-01-2021 giữa Ngân hàng TMCP Q với anh Nguyễn Thành T3 và chị Nguyễn Thị Thanh N.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị L; Nguyễn Thị H1; Nguyễn Thị Đ; anh Lê Công T1; bà Nguyễn Thị L2; Nguyễn Thị D và Ngân hàng TMCP Q mỗi đương sự phải chịu 300.000đ, bà Nguyễn Thị L; Nguyễn Thị H1; Nguyễn Thị Đ; anh Lê Công T1; bà Nguyễn Thị L2; Nguyễn Thị D và Ngân hàng TMCP Q đã nộp tạm ứng án phí ở các biên lai số 0000052, 0000047, 0000048, 0000049, 0000050, 0000051 ngày 20 tháng 9 năm 2023, 0000056 ngày 22 tháng 9 năm 2023 nên được khấu trừ.
- Về án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng các đương sự trong vụ án phải chịu như án sơ thẩm đã tuyên.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Tám |
Bản án số 198/2024/DS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 198/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp hợp đồng tín dụng
