Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 199/2024/DS-ST.

Ngày: 10 - 9 - 2024.

“V/v Tranh chấp về dân sự

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tinh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Vững.

2. Ông Nguyễn Văn Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đạt - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:

Ông Huỳnh Văn Sáng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04, 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 105/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp về dân sự quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 398/2024/QĐST-DS ngày 09/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 269/2024/DS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bùi Văn Lưu Y, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Bùi Văn L Y là: Anh Trần Văn H, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Bùi Văn T, sinh năm 1967.

Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ngân hàng N3.
  2. Địa chỉ: Số B, đường L, B, Hà Nội.

  3. Mạch Thái L1, sinh năm 1985.
  4. HKTT: Ấp T, xã T, Tp ., tỉnh Tiền Giang.

    Chỗ ở hiện nay: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Phạm Thị N, sinh năm 1963. (vợ ông T)
  6. Bùi Quốc B, sinh năm 1988. (con ông T)
  7. Trương Thị Hằng N1, sinh năm 1992. (dâu ông T)
  8. Cùng địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Có mặt: Anh H, ông Lưu Y, ông T, anh B; Bà N, chị N1, Ngân hàng và anh L1 có văn bản xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Anh Trần Văn H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Bùi Văn Lưu Y trình bày:

Nguyên nguồn gốc đất là của cha ông Y tên là Bùi Văn T1 (đã chết 1973) và mẹ là Phạm Thị B1 (đã chết 2014) có cho ông Y phần diện tích đất là 2.000m² đất thuộc một phần thửa số 69, tờ bản đồ số 27 với tổng diện tích là 6.478,9m², đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, hiện nay do ông Bùi Văn T đang đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cho đất không có làm giấy tờ gì, nhưng tất cả các anh em trong gia đình đều biết và phần đất trên ông Y canh tác và sử dụng đến nay đã trên 20 năm nay. Trên phần đất này, ông Y đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định từ trước cho đến nay. Nhiều lần ông Y yêu cầu ông Bùi Văn T làm thủ tục tách thửa cho ông Y nhưng ông T cứ hứa lần hứa lượt không chịu tách thửa sang tên cho ông Y và diện nhiều lý do là nói giấy chứng nhận QSDĐ đang thế chấp ngân hàng. Sự việc trên có hòa giải tại UBND xã Đ nhưng không thành.

Theo đơn khởi kiện, ông Bùi Văn L Y yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Bùi Văn T phải làm thủ tục tách thửa sang tên cho ông Bùi Văn L Y với diện tích là 2.000m² theo vị trí đất ông Lưu Y đang sử dụng ổn định từ trước đến nay thuộc một phần thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, hiện nay ông Bùi Văn T đang đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế diện tích đất có thay đổi nên anh H là người đại diện theo ủy quyền của ông Lưu Y X thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau:

Nay, ông Bùi Văn L Y yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Bùi Văn T phải làm thủ tục sang tên, tách bộ cho ông Y P đất có diện tích 1.047m² nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M3 đến M4, R1, F8, F7, F6, R2, M14, R3, F21, F24, R4, M11, M10, M9, R5, M8, M7, M6, M5, M17 trở lại M3 theo Phụ lục ngày 09/8/2024 của Công ty TNHH D thuộc một phần thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra, ông Lưu Y không còn yêu cầu hay tranh chấp gì khác.

Nếu trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Y thì ông Lưu Y tự nguyện di dời, chặt, đập phá, đốn bỏ căn nhà, chuồng heo và các cây trồng trên đất để giao trả đất cho ông T. Đối với công sức đầu tư và cải tạo phần đất tranh chấp thì ông Y không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Đối với việc cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T thì ông Y cũng không tranh chấp hay khiếu nại gì. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Y thì ông Y đề nghị thu hồi lại phần diện tích đã công nhận cho ông Y để ông Y được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông Y thống nhất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/4/2024 của Tòa án, Phụ lục ngày 09/8/2024 của Công ty TNHH D; thống nhất giá đất tranh chấp có giá là 112.500 đồng/1m² và đề nghị Tòa án sử dụng giá này để giải quyết vụ án, không yêu cầu định giá.

Đối với hợp đồng thuê nhà giữa ông Y với anh L1 thì ông Y và anh L1 không tranh chấp và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Về hiện trạng phần đất tranh chấp không có gì thay đổi so với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/4/2024 của Tòa án.

* Bị đơn Bùi Văn T trình bày:

Nguyên nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha mẹ ông T khai mở từ thời chiến. Khi còn sống thì mẹ ông đã được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lúc đầu thì ông Lưu Y là người sống chung với mẹ (vì ông Lưu Y là con trai út), sau đó không nhớ năm nào thì ông Y tự ý cất nhà ra riêng ngay tại phần đất đang tranh chấp hiện nay, mẹ ông không đồng ý, nhưng ông Y vẫn ngang nhiên cất nhà. Sau đó, mẹ ông mới đuổi ông Y đi thì ông Y đã bỏ đi ra ngoài lộ 846 mua đất của người khác để cất nhà ở và bỏ mặc mẹ ông ở một mình nên ông mới rước mẹ ông qua nhà ông để nuôi dưỡng cho đến khi mẹ ông chết. Lúc còn sống vào năm 2011, mẹ ông có làm thủ tục tặng cho ông toàn bộ phần đất mà mẹ ông đã được đứng tên trong đó có thửa đất mà ông Y đang tranh chấp nay là thửa 69, tờ bản đồ số 27, loại đất cây lâu năm, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay, phần đất này ông Y không còn sử dụng mà cho người khác thuê lại.

Nay, ông T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Y, vì lúc còn sống mẹ ông không có hứa cho đất như ông Lưu Y trình bày, mà chỉ có cái nền nhà ngang 10, dài đến mí ao. Do chỗ anh em nên ông T tự nguyện cho ông Lưu Y 01 cái nền nhà theo hiện trạng mà anh Lưu Y đang sử dụng có diện tích 414,8m² nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M3 đến mốc M4, R1, F8, F7, F6, R2, R6, M15, F22, R5, M8, M7, M6, M5, M17 trở lại M3 theo Phụ lục ngày 09/8/2024 của Công ty TNHH D thuộc một phần thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra, ông T không có tranh chấp hay yêu cầu gì khác. Nếu trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Y thì ông sẽ tự nguyện di dời, chặt phá hoặc đốn bỏ các cây trồng của ông để giao đất cho ông Lưu Y . Đối với các cây trồng lâu năm trên đất như X1, G, M và M1 là do mẹ của ông trồng, chứ không phải ông Lưu Y T2, nhưng ông không tranh chấp gì đối với các cây trồng này.

Hiện bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 69 thì ông T đang vay thế chấp tại Ngân hàng N3 – Chi nhánh huyện T.

Ông T thống nhất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/4/2024 của Tòa án, Phụ lục ngày 09/8/2024 của Công ty TNHH D; thống nhất giá đất tranh chấp có giá là 112.500 đồng/1m² và đề nghị Tòa án sử dụng giá này để giải quyết vụ án, không yêu cầu định giá.

Về hiện trạng phần đất tranh chấp không có gì thay đổi so với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/4/2024 của Tòa án.

* Anh Bùi Quốc B trình bày:

Anh B thống nhất theo ý kiến trình bày của ông T. Trong vụ án này, anh không có tranh chấp hay yêu cầu gì khác.

* Các tình tiết và sự kiện mà các đương sự đã thống nhất được:

Các đương sự có mặt thống nhất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/4/2024 của Tòa án, Phụ lục ngày 09/8/2024 của Công ty TNHH D; thống nhất giá đất tranh chấp có giá là 112.500 đồng/1m² và đề nghị Tòa án sử dụng giá này để giải quyết vụ án, không yêu cầu định giá.

* Các tình tiết và sự kiện mà các đương sự không thống nhất được: Toàn bộ nội dung vụ án.

* Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ. Tuy nhiên, bị đơn thừa nhận lúc còn sống mẹ ông có cho nguyên đơn cái nền nhà ngang 10m, dài đến mí ao nhưng bị đơn vẫn đồng ý sang tên, tách bộ cho nguyên đơn diện tích theo hiện trạng sử dụng có diện tích 414,8m² nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M3 đến mốc M4, R1, F8, F7, F6, R2, R6, M15, F22, R5, M8, M7, M6, M5, M17 trở lại M3 theo Phụ lục ngày 09/8/2024 của Công ty TNHH D thuộc một phần thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải sang tên, tách bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ngoài ra, các đương sự khác trong vụ án không còn tranh chấp nội dung nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về dân sự quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 24 Điều 3 của Luật Đất đai, khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền, xét thấy: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 203 của Luật Đất đai. Phần đất hiện đang tranh chấp tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về tư cách đương sự và giao nộp tài liệu, chứng cứ:

Các đương sự thống nhất Tòa án đã đưa đầy đủ những người có liên quan đến nội dung vụ án vào tham gia tố tụng, không còn thiếu ai. Đồng thời, các đương sự cam kết không còn tài liệu, chứng cứ nào để giao nộp cho Tòa án và cũng không đề nghị Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ nào khác, cũng như không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm người làm chứng. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[1.4] Về xét xử vắng mặt:

Xét thấy, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bà N, chị N1, Ngân hàng và anh L1 có văn bản xin xét xử vắng mặt. Đồng thời, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.5] Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện:

Theo đơn khởi kiện, ông Bùi Văn L Y yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Bùi Văn T phải làm thủ tục tách thửa sang tên cho ông Bùi Văn L Y với diện tích là 2.000m² theo vị trí đất ông Lưu Y đang sử dụng ổn định từ trước đến nay thuộc một phần thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, hiện nay ông Bùi Văn T đang đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế diện tích đất có thay đổi nên anh H là người đại diện theo ủy quyền của ông Lưu Y X thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau:

Nay, ông Bùi Văn L Y yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Bùi Văn T phải làm thủ tục sang tên, tách bộ cho ông Y P đất có diện tích 1.047m² nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M3 đến M4, R1, F8, F7, F6, R2, M14, R3, F21, F24, R4, M11, M10, M9, R5, M8, M7, M6, M5, M17 trở lại M3 theo Phụ lục ngày 09/8/2024 của Công ty TNHH D thuộc một phần thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra, ông Lưu Y không còn yêu cầu hay tranh chấp gì khác.

Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của anh H là hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và không vượt phạm vi được ủy quyền và được ông Lưu Y đồng ý, các đương sự khác không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bùi Văn Lưu Y, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo lời trình bày của anh H thì nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha ông Y tên là cụ Bùi Văn T1 (đã chết năm 1973) và mẹ là cụ Phạm Thị B1 (đã chết năm 2014) có cho ông Y P diện tích đất là 2.000m² đất thuộc một phần thửa số 69, tờ bản đồ số 27 với tổng diện tích là 6.478,9m², đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, hiện nay do ông Bùi Văn T đang đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cho đất không có làm giấy tờ gì, nhưng tất cả các anh em trong gia đình đều biết và phần đất trên ông Y canh tác và sử dụng đến nay đã trên 20 năm nay. Trên phần đất này, ông Y đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định từ trước cho đến nay.

Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế thì nay ông Lưu Y chỉ xác định lại diện tích còn 1.047m². Do đó, việc ông Lưu Y cho rằng cha mẹ ông cho đất diện tích 2.000m² theo đơn khởi kiện là không có thật. Vì từ năm 1992 (năm cho đất) đến năm 2017 (năm bắt đầu tranh chấp) thì ông Y không có tranh chấp gì về phần đất này với cụ B1, cũng như ông T.

Đồng thời, theo lời khai của các chị ông là bà Bùi Thị L2, Bùi Thị Bé N2, Bùi Thị Ngọc Y1 đều cùng thống nhất trình bày lúc còn sống mẹ các bà là cụ B1 có cho ông Lưu Y M2 cái nền nhà có chiều ngang 10m, chiều dài đến mí ao. Sự việc này được ông T thừa nhận.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 04/9/2024, ông Lưu Y trình bày phất đất ao và chuồng heo ông đã không sử dụng mười mấy năm nay (năm nào thì không nhớ chính xác), lúc đó thì cụ B1 vẫn còn sống. Lời trình bày này phù hợp với lời khai của ông T là khi ông sử dụng đất của cụ B1 thì bị cụ B1 la và ngăn cản nên ông đã bỏ đi chỗ khác ở và không sử dụng đất nữa.

Đối với các cây trồng lâu năm trên đất như Dừa, X1, M và M1 thì ông ông Lưu Y cho rằng là do ông trồng, nhưng ông không có chứng cứ gì chứng minh.

Mặc dù, ông Lưu Y H1 đang sử dụng diện tích nhiều hơn so với diện tích mà cụ B1 cho ông Lưu Y, nhưng ông T vẫn đồng ý sang tên, tách bộ cho ông Lưu Y được đứng tên quyền sử dụng đất có diện tích 414,8m² nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M3 đến mốc M4, R1, F8, F7, F6, R2, R6, M15, F22, R5, M8, M7, M6, M5, M17 trở lại M3 theo Phụ lục ngày 09/8/2024 của Công ty TNHH D thuộc một phần thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của ông T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bùi Văn L Y là có căn cứ chấp nhận một phần: Buộc ông Bùi Văn T phải có nghĩa vụ, sang tên tách bộ cho ông Bùi Văn L Y được đứng tên quyền sử dụng đất có diện tích 414,8m² nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M3 đến mốc M4, R1, F8, F7, F6, R2, R6, M15, F22, R5, M8, M7, M6, M5, M17 trở lại M3 theo Phụ lục ngày 09/8/2024 của Công ty TNHH D thuộc một phần thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

[3] Đối với chuồng heo và các cây trồng trên đất thì ông Lưu Y và ông T không tranh chấp, các ông sẽ tự nguyện di dời, chặt, đập phá, đốn bỏ để giao trả đất cho bên được Tòa án giao đất. Đồng thời, đối với công sức đầu tư và cải tạo phần đất tranh chấp thì ông Lưu Y, ông T không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[4] Đối với việc cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T thì ông Lưu Y cũng không tranh chấp hay khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[5] Đối với hợp đồng thuê nhà giữa ông Y với anh L1 thì ông Y và anh L1 không tranh chấp và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[6] Đối với hợp đồng thế chấp giữa ông T với Ngân hàng N3 thì các đương sự không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết. Tuy nhiên, hiện bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 69 đang tranh chấp Ngân hàng đang giữ nên Hội đồng xét xử quyết định buộc Ngân hàng phải giao lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 69 cho ông T để các đương sự tiến hành thủ tục điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Bùi Văn Lưu Y phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với diện tích đất không được chấp nhận là 1.047m² – 414,8m² = 632,2m² x 112.500 đồng/1m² = 71.122.500 đồng x 5% = 3.556.125 đồng, làm tròn là 3.556.000 đồng.

Ông Bùi Văn T phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng.

Ngân hàng N3 phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng.

[8] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc

phía nguyên đơn tự nguyện chịu, đã nộp và chi xong.

[9] Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T

là có căn cứ và phù hợp với nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 24 Điều 3, Điều 106, Điều 166; Điều 203 của Luật Đất đai;

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 173, Điều 227, Điều 228, Điều 235, khoản 1 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bùi Văn L Y.
  2. Công nhận cho ông Bùi Văn L Y được quyền sử dụng đất diện tích 414,8m² nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M3 đến mốc M4, R1, F8, F7, F6, R2, R6, M15, F22, R5, M8, M7, M6, M5, M17 trở lại M3 theo Phụ lục ngày 09/8/2024 của Công ty TNHH D thuộc một phần thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    Buộc ông Bùi Văn T phải có nghĩa vụ, sang tên tách bộ cho ông Bùi Văn L Y được đứng tên quyền sử dụng đất có diện tích 414,8m² nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M3 đến mốc M4, R1, F8, F7, F6, R2, R6, M15, F22, R5, M8, M7, M6, M5, M17 trở lại M3 theo Phụ lục ngày 09/8/2024 của Công ty TNHH D thuộc một phần thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký và điều chỉnh lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Trường hợp ông T không thực hiện, thì ông Lưu Y được quyền tự liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục để được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    (Kèm Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/4/2024 của Tòa án huyện Tháp Mười và Phụ lục ngày 09/8/2024 của Công ty TNHH D)

  3. Buộc Ngân hàng N3 phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Bùi Văn T bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Bùi Văn T ngày 16/12/2019, số vào sổ cấp GCN: CS04766 đối với thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  4. Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ thu hồi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Bùi Văn T ngày 16/12/2019, số vào sổ cấp GCN: CS04766 đối với thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để cấp lại quyền sử dụng đất cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
  5. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bùi Văn L Y đối với diện tích 632,2m² thuộc một phần thửa 69, tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  6. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc phía nguyên đơn Bùi Văn L Y tự nguyện chịu, đã nộp và chi xong.
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  8. Ông Bùi Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Bùi Văn Lưu Y phải chịu 3.556.000 đồng (ba triệu năm trăm năm mươi sáu nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002976 ngày 30/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Như vậy, ông Bùi Văn L Y còn phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.256.000 đồng (ba triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

    Ngân hàng N3 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  9. Về quyền kháng cáo:
  10. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Riêng, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tháp Mười;
  • - THADS huyện Tháp Mười;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VPTA & Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Tinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 199/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về dân sự quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 199/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về dân sự quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger