|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 199/2024/DS-PT
Ngày: 17-5-2024
V/v: Tranh chấp mở lối đi qua bất
động sản liền kề.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Các Thẩm phán: 1/ Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
2/ Bà Phan Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 106/2023/DSST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: /2024/QĐ-PT ngày tháng năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1970
- Bà Nguyễn Thị Hồng M, sinh năm 1960
- Bà Nguyễn Thị Phú C, sinh năm 1964.
Cùng địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền của bà H, bà M, bà C, bà V: Ông Phan Thanh H1, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Văn bản ủy quyền ngày 09/04/2021). – Có mặt
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1974. Có mặt
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền của ông K: Ông Trần Ngọc P, sinh năm 1977;
Địa chỉ: 5 B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Văn bản ủy quyền ngày 25/02/2022)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn Vĩnh T, sinh năm 1968 - Xin vắng mặt
- Ông Nguyễn Văn Út H2, sinh năm 1977 - Xin vắng mặt
Cùng địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Ông Nguyễn Văn Thái S, sinh năm 1962 – Vắng mặt
Địa chỉ: Hẻm A N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1955 - Xin vắng mặt
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Văn phòng Công chứng Lưu Hữu T1. - Xin vắng mặt
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
* Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Hữu K.
(Nguyên đơn, bị đơn và người liên quan kháng cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 26/10/2021 các nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H, bà Nguyễn Thị Hồng M, bà Nguyễn Thị Phú C, bà Nguyễn Thị Bích V và quá trình giải quyết vụ án ông Phan Thanh H1 đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn thống nhất trình bày:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án các nguyên đơn có yêu cầu Hủy Văn bản phân chia tài sản thừa kế được công chứng số 110/8, quyển số 01/2014/TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C2) chứng nhận ngày 30/8/2014 và Văn bản phân chia tài sản thừa kế được công chứng số 108/7, quyển số 01/2014/TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C1 chứng nhận ngày 31/7/2014. Đồng thời, các nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế cho các nguyên đơn tại các thửa đất 510, 442 và 114. Nhưng nay các nguyên đơn thống nhất rút yêu cầu về yêu cầu hủy các Văn bản phân chia tài sản thừa kế nêu trên và yêu cầu chia di sản thừa kế tại thửa 510, thửa 442. Riêng đối với yêu cầu chia di sản thừa kế tại thửa 114 các nguyên đơn có thay đổi về yêu cầu chia di sản thừa kế mà yêu cầu công nhận cho các nguyên đơn được quyền sử dụng diện tích đất theo hiện trạng các nguyên đơn đang sử dụng thể hiện tại Bản trích đo địa chính số 465/TTKTTNMT ngày 18/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C, cụ thể: Bà H diện tích đất 358,6m² tại vị trí A, bà C diện tích đất 302,2m² tại vị trí B, bà M diện tích đất 349m² tại
vị trí C, bà V diện tích đất 274,3m² tại vị trí E. Ngoài ra, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Hữu K phải trả cho bà số tiền 300.000.000 đồng mà bà đã đưa cho ông K cất nhà (nhà hiện ông K đang sử dụng).
Do thửa đất 114, tờ bản đồ số 01, tọa lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ hiện do ông Nguyễn Hữu K đứng tên chủ sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00917 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 26/8/2014 có nguồn gốc của cha mẹ nguyên đơn, bị đơn là ông Nguyễn Văn T2 (chết ngày 28/02/2018), bà Nguyễn Thị K1 (chết ngày 19/4/1997) tạo lập. Vào khoảng tháng 01/1997, vợ chồng ông T2 cho con là bà Nguyễn Thị H3 Mai một phần diện tích đất chiều ngang 7m, chiều dài khoảng 49m, khi cho đã cấm ranh mốc cụ thể và bà M cất nhà ở từ năm 1998 cho đến nay. Trong năm 2007, ông T2 đồng thời cho các con gồm bà Nguyễn Thị Phú C, bà Nguyễn Thị Bích V, ông Nguyễn Văn Thái S, ông Nguyễn Văn Út H2, bà Nguyễn Thị D mỗi người một phần diện tích đất có chiều ngang 5m; riêng ông Nguyễn Văn Vĩnh T, ông Nguyễn Hữu K được cho chiều ngang 8m; về chiều dài thì bằng nhau và mỗi phần đất được cho có ranh mốc cụ thể. Còn bà Nguyễn Thị Cẩm H không có chồng con nên ở chung với cha mẹ tại phần đất mà hiện nay gia đình ông K đang ở và bà H được cha cho phần đất này nhưng đến khoảng năm 2019 nhà cửa không có ai mà bà H đi làm tại thành phố Hồ Chí Minh nên bà H có nhờ ông K dọn về nhà của ông T2 ở chung với bà H. Đến cuối năm 2019, ông K tháo dỡ toàn bộ nhà cũ ông K ở trước đó (tại phần diện tích đất bà H đang yêu cầu) về sống tại nhà bà H được cha cho đến nay; Đối với các phần đất được cho nêu trên chỉ có bà C, ông H2 và ông T cất nhà ở; phần đất còn lại chỉ cấm trụ đá, chưa cất nhà.
Yêu cầu của các nguyên đơn ngoài dựa trên cơ sở các phần diện tích được ông Nguyễn Văn T2 cho lúc còn sống, được các anh chị em thống nhất, đồng thời bị đơn ông K cũng thừa nhận rằng việc cho đất này theo biên bản hòa giải cơ sở ngày 07/01/2021. Đối với việc các nguyên đơn ký tên vào văn bản phân chia tài sản thừa kế được công chứng ngày 31/7/2014 là do gia đình thỏa thuận việc ký tên để ông K đứng giấy xong thì tách ra cho anh chị em nhưng sau khi ký tên xong thì ông K nói làm chưa được cho đến nay. Ngoài ra, tại phiên tòa phía nguyên đơn cho rằng việc ông K cắt chia đất theo Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 25/2/2021 các nguyên đơn không đồng ý vì không đúng theo hiện trạng đất các nguyên đơn đang sử dụng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Ngọc P đại diện theo ủy quyền của bị đơn và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Hữu K trình bày:
Bị đơn không đồng ý đối với yêu cầu của các nguyên đơn vì thửa đất 114 hiện ông K đang đứng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được thừa kế theo quy định pháp luật. Tại phiên hòa giải cơ sở ngày 07/01/2021, đúng là bị đơn có đồng ý cho các nguyên đơn phần diện tích đất mà các nguyên đơn hiện đang yêu cầu nhưng các nguyên đơn không đồng ý và khởi kiện nên nay bị đơn thay đổi không đồng ý việc công nhận đất theo yêu cầu của các nguyên đơn, cũng như việc bồi hoàn tiền cho bà H.
Về thửa đất 114 (thửa đất tranh chấp) đúng là có nguồn gốc của vợ chồng ông T2 (cha mẹ nguyên đơn, bị đơn) tạo lập và về mối quan hệ thân tộc như nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên phần diện tích đất các nguyên đơn yêu cầu xuất phát từ việc năm 2015 (sau khi ông K được cấp giấy đất - năm 2014), ông T2 nói với ông K là tách giấy đất cho các anh chị em mỗi người một nền nhà, ông K nghe lời ông T2 nên năm 2016 ông K cùng các anh chị em cấm mốc ranh đất nhưng lúc này các nguyên đơn không thống nhất việc ông K cho đất vì phần đất mỗi người được nhận không bằng nhau. Đến năm 2021, ông K tiếp tục việc cấm ranh mốc đất chia cho từng anh chị em và phần phân chia đất đã có Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 25/2/2021 nhưng sau đó các nguyên đơn lại không đồng ý vì diện tích chia không đồng đều. Hiện nay, chỉ có bà C, bà M có nhà trên đất và đang sử dụng phần diện tích đất mà các nguyên đơn đang yêu cầu, còn phần diện tích của bà H, bà V yêu cầu thì do ông K đang quản lý, sử dụng.
Tại phiên tòa, ông K xác định hiện các anh chị em đang quản lý, sử dụng đất như hiện trạng thể hiện tại Bản trích đo địa chính số 465 và hiện nay ngoài bà H, bà V, ông S chưa cất nhà thì những anh chị em còn lại đều đã cất nhà trên đất. Ngoài ra, vào năm 2004, 2005 thì ông K cất nhà ở tại phần diện tích đất mà hiện nay bà H đang yêu cầu nhưng đến năm 2015 do ông T2 bị bệnh không ai chăm sóc nên anh chị em đồng ý để ông về ở trên căn nhà hiện nay. Đối với phần đất bà D được cho thì bà D đã bán lại cho ông K với số tiền 215.000.000 đồng nên hiện trạng sử dụng đất không có phần đất của bà D.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Ông Nguyễn Văn Út H2: Ông với nguyên, bị đơn là anh chị em ruột với nhau. Thửa đất tranh chấp do cha mẹ tạo lập. Trong quá trình sử dụng, ông T2 có phân chia cho bà Mai m phần diện tích đất có chiều ngang là 7m vào khoảng năm 2003 và bà M cất nhà ở từ năm 2003 cho đến nay; Đến khoảng năm 2013, ông T2 có phân chia cho các anh em chị còn lại gồm: bà V, bà C, ông S, ông T, bà D và ông - mỗi người một nền nhà, chiều ngang 5m, chiều dài không xác định được nhưng bằng nhau. Ngoài ra, khoảng vào năm 2000, 2001 khi ông K lập gia đình thì ông T2 cho ông K một nền nhà ngang 8m (phần đất bà H đang yêu cầu) và ông K cất nhà ở trên đất đến khi ông T2 bệnh thì ông K dọn về nhà ông T2 ở cho đến nay, còn nhà trên phần đất được ông T2 cho thì ông K đã tháo dỡ vào năm 2021. Riêng bà Nguyễn Thị Cẩm H thì ở với ông T2 từ nhỏ cho đến nay (căn nhà hiện nay ông K đang ở) nhưng từ năm 1994 thì bà H đi làm thuê ở thành phố Hồ Chí Minh lâu lâu mới về nhà ở chung với ông T2. Từ khi ông K về nhà ông T2 ở thì giữa bà H và ông K phát sinh tranh chấp, vì ông K để lại phần đất ông T2 cho năm 2000 trước đó cho bà H (phần đất bà H đang yêu cầu), còn ông K được phần nhà đất hiện nay nhưng bà H không đồng ý nên tranh chấp. Đồng thời, việc ông T2 phân chia đất nêu trên cho mỗi anh chị em thì các anh chị em đều thống nhất không ai có ý kiến, chỉ riêng phần đất ông K đang ở thì có tranh chấp với bà H. Đối với phần đất ông T2 cho thì bà M, ông T, bà C và ông đã cất nhà ở, còn phần đất cho các anh chị em còn lại thì chỉ có cấm ranh mốc. Việc tại Văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 31/7/2014 các anh em chị ký tên để ông K đứng tên sử dụng đất vì thời điểm làm thủ tục sang tên nghe nói Nhà nước có quy hoạch tại khu vực làm lò thiêu nên không thể làm thủ tục tách giấy cho từng người mà phải làm thủ tục cho ông K đứng tên nhưng sau này thay đổi quy hoạch nên ông K có tiến hành thủ tục để tách giấy cho các anh chị em phần diện tích được ông T2 phân chia thì các nguyên đơn phát sinh tranh chấp. Do không có yêu cầu gì trong vụ án và phải đi làm ăn nên ông yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập tham gia tố tụng.
- Ông Nguyễn Văn Vĩnh T, bà Nguyễn Thị D: Ông bà là chị em ruột với nguyên, bị đơn. Ông bà cho rằng việc ông K hưởng thừa kế theo Văn bản phân chia tài sản thừa kế được công chứng ngày 31/7/2014 đúng quy định pháp luật nên ý kiến giữ nguyên các thửa đất ông K được cấp giấy. Ngoài ra, ông bà yêu cầu vắng mặt suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, theo yêu cầu của đương sự Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp theo quy định. Hội đồng tiến hành thẩm định phần đất tranh chấp tại các thửa 510, 442 và thửa 114. Tại thửa 114 xác định các phần đất tranh chấp cụ thể: Bà H tại vị trí A, diện tích 358,6m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT); Bà Cầm vị trí B, diện tích 302,2m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT); Bà M vị trí C, diện tích 349,0m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT); Bà V vị trí E, diện tích 274,3m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT). Ngoài ra, trên phần đất tranh chấp có các tài sản sau:
- Tại vị trí B có tài sản của bà C: Nhà có kết cấu khung thép tiền chế, mái tole, vách tole, không trần, nền gạch men, diện tích 4m x 11,4 m = 45,6m2, giá trị sử dụng 40%.
- Tại vị trí C có tài sản của bà M: Nhà có kết cấu khung gỗ, mái tole, vách tole, không trần, nền gạch men + gạch tàu, diện tích 5m x 16 m = 80m2, giá trị sử dụng 40%.
Ngoài ra, theo yêu cầu của đương sự, Tòa án tiến hành giám định đối với chữ ký của ông Nguyễn Văn T2 tại Văn bản phân chia tài sản thừa kế được công chứng số 108/7, quyển số 01/2014/TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C1 ngày 31/7/2014. Theo Kết luận giám định số 138/KL-KTHS-TL ngày 22/10/2023 của Phòng K2 Công an thành phố C kết luận: Không đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên Nguyễn Văn T2 trên tài liệu cần giám định so với chữ ký mang tên Nguyễn Văn T2 trên tài liệu mẫu so sánh có phải có cùng một người ký ra hay không.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 106/2023/DSST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H, bà Nguyễn Thị Hồng M, bà Nguyễn Thị Phú C, bà Nguyễn Thị Bích V.
Công nhận cho bà Nguyễn Thị Cẩm H được quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp 358,6m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT) tại vị trí A.
Công nhận cho bà Nguyễn Thị Phú C được quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp 302,2m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT) tại vị trí B.
Công nhận cho bà Nguyễn Thị Hồng M được quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp 349,0m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT) tại vị trí C.
Công nhận cho bà Nguyễn Thị Bích V được quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp 274,3m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT) tại vị trí E.
Các diện tích bà H, bà C, bà M, bà V được công nhận nêu trên đều thuộc một phần thửa 114, tờ bản đồ số 01, tọa lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ do ông Nguyễn Hữu K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00917 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 26/8/2014. Vị trí, kích thước các cạnh của các phần đất trên được xác định theo Bản trích đo địa chính số 465/TTKTTNMT ngày 18/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C (Đính kèm). Đương sự có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền để hoàn chỉnh thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với phần đất trên theo quy định.
Ông Nguyễn Hữu K có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm H số tiền 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu hủy Văn bản phân chia tài sản thừa kế được công chứng số 110/8, quyển số 01/2014/TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C1 chứng nhận ngày 30/8/2014; Văn bản phân chia tài sản thừa kế được công chứng số 108/7, quyển số 01/2014/TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C1 chứng nhận ngày 31/7/2014 và yêu cầu chia di sản thừa kế tại các thửa đất 510, 442; nếu có tranh chấp thì đương sự có quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng về thẩm định định giá tài sản, giám định, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 08/12/2023, bị đơn ông Nguyễn Hữu K kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị đơn vẫn giữ nguyên các yêu cầu về kháng cáo.
Phía nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ và tình tiết, dữ kiện liên quan cho thấy: Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độ lập của người liên quan; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Nguyên đơn và người liên quan kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử “Giữ nguyên bản án sơ thẩm”. Tuy nhiên, việc không tuyên nghĩa vụ trả đất là có thiếu sót cần điều chỉnh để đảm bảo thực thi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hữu K trong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.
[2] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy: Các đương sự tranh chấp về quyền sử dụng đất, trong đó: bị đơn cư trú và bất động sản tranh chấp tọa lạc tại địa giới hành chính quận T nên Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ pháp luật là có căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của đương sự:
Bị đơn ông Nguyễn Hữu K cho rằng: Trước đây, do tình nghĩa chị em trong nhà nên ông đồng ý cho Nguyễn Thị Cẩm H, Nguyễn Thị Hồng M, Nguyễn Thị Bích V và Nguyễn Thị Phú C nhưng họ không đồng ý nên ông cũng không thống nhất cho đất như ý kiến hòa giải tại Ủy ban nhân dân P1; đối với số tiền 300.000.000 đồng là tiền của cha ông (Nguyễn Văn T2) và bà H đem về trả cho cha, chứ không phải hùn hạp làm nhà. Nên ông K kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế tại thửa 114, cụ thể:
- Bà H tại vị trí A, diện tích 358,6m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT);
- Bà C vị trí B, diện tích 302,2m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT);
- Bà M vị trí C, diện tích 349,0m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT);
- Bà V vị trí E, diện tích 274,3m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT);
Tất cả các vị trí (nêu trên) thuộc một phần thửa 114, tờ bản đồ số 01, tọa lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ do ông Nguyễn Hữu K đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00917 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 26/8/2014 được thể hiện Bản trích đo địa chính số 465/TTKTTNMT ngày 18/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
[4.2] Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự thống nhất về mối quan hệ thân tộc và nguồn gốc đất tranh chấp của cha mẹ nguyên đơn, bị đơn tạo lập là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, theo nguyên đơn: khi cụ Nguyễn Văn T2 (cha nguyên, bị đơn) còn sống có cho các con mỗi người phần diện tích đất tại thửa 114 (thửa đất tranh chấp), đồng thời các phần diện tích đất được cho đã được ông T2 cấm ranh mốc cụ thể và thời điểm cho là trước khi bị đơn ông K được cấp giấy đất. Riêng, phía bị đơn cho rằng: việc ông T2 nói cho đất cho các con là sau khi ông K được cấp Giấy đất (nói cho năm 2015, cấp giấy năm 2014) và nghe lời ông T2 nên ông K đã cùng anh chị em đo đạc cấm ranh mốc vào năm 2016 và năm 2021 nhưng phần diện tích không bằng nhau nên phát sinh tranh chấp.
[4.3] Thấy rằng, tại biên bản hòa giải cơ sở ngày 07/01/2021 (Bút lục: 21-> 24) ông K trình bày: Tôi thừa nhận lúc cha tôi còn sống có nói là chia đất ra mỗi người một phần ai đã cất rồi trước thì tới đâu tính tới đó chứ không được đập phá của anh chị em và cha tôi cũng có cắm ranh hết. Riêng về căn nhà gốc (nhà hiện nay ông K đang ở) cha tôi ở xuống cấp không thể ở, lúc này bà H đã đi làm xa nên tất cả anh chị em có bàn bạc cắt lại căn nhà, tổng số tiền cắt nhà khoảng 800.000.000 đồng, bà H đưa 300.000.000 đồng, ông K đưa ra 500.000.000 đồng. Trước đây tôi ở phần đất sát kho ông B (phần đất bà H đang yêu cầu), đến khi cha tôi già yếu không người chăm sóc để tiện việc chăm sóc cha già tất cả anh chị em đồng ý tôi về ở đây chăm sóc cha, lúc này bà H đi làm xa không còn ở đây nữa. Còn phần đất thửa 114 cha tôi thừa kế cho tôi đứng tên, sau đó làm thủ tục sang tên lại cho từng người hết, nhưng tôi có đi làm nhưng chưa làm được chứ không phải tôi không tách cho các anh chị em. Ngoài ra, các bên đã thống nhất – Tách thửa theo ranh ông T2 đã cắm trước đây; ông K sẽ ở trong nhà gốc đã cất; Bà H sẽ ở phần đất sát ranh kho ông B và ông K sẽ thối tiền cắt nhà cho bà H là 300.000.000 đồng.
Quá trình tố tụng tại Biên bản lấy lời khai ngày 11/3/2022 tại Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, ông Út H2 (là người không khởi kiện, không bị kiện, là anh chị em trong gia đình) có lời khai về việc “việc ông T2 phân chia đất nêu trên cho mỗi anh chị em thì các anh chị em đều thống nhất không ai có ý kiến, chỉ riêng phần đất ông K đang ở thì có tranh chấp với bà H. Đối với phần đất ông T2 cho thì bà M, ông T, bà C và ông đã cất nhà ở, còn phần đất cho các anh chị em còn lại thì chỉ có cấm ranh mốc. Việc tại Văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 31/7/2014 các anh em chị ký tên để ông K đứng tên sử dụng đất vì thời điểm làm thủ tục sang tên nghe nói Nhà nước có quy hoạch tại khu vực làm lò thiêu nên không thể làm thủ tục tách giấy cho từng người mà phải làm thủ tục cho ông K đứng tên nhưng sau này thay đổi quy hoạch nên ông K có tiến hành thủ tục để tách giấy cho các anh chị em phần diện tích được ông T2 phân chia thì các nguyên đơn phát sinh tranh chấp”. Đến khi xét xử sơ thẩm xong, ông Út H2 có đơn kháng cáo về nội dung yêu cầu giữ nguyên các thửa đất ông K được cấp Giấy. Tuy nhiên, yêu cầu của ông Út H2 không đảm bảo quy định về kháng cáo nên đã được Tòa án cấp sơ thẩm trả đơn theo quy định pháp luật. Do đó, về cùng nội dung tranh chấp nhưng ông Út H2 liên tục thay đổi và những lời khai khác nhau được xem xét, đánh giá chung trong tổng thể các tình tiết của vụ án.
Thực tế, phần đất các anh chị em đương sự được phân chia theo từng vị trí đất và thực tế có người đã xây nhà, quản lý sử dụng theo Bản mô tả, ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 25/02/2021 (do đương sự cắm mốc, ranh) và cụ thể hóa theo Bản trích đo địa chính số 465/TTKTTNMT ngày 18/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Và trong 04 nguyên đơn yêu cầu khởi kiện thì có 02 nguyên đơn (bà C, bà M) đã xây dựng nhà và sinh sống ổn định. Đối với anh chị em khác (không khởi kiện) thì cũng có nhà của ông Út H2, ông T xây dựng từng vị trí được các bên tự cắm mốc theo Bản mô tả, ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 25/02/2021 (ông K thừa nhận tại phiên tòa phúc thẩm: do anh em tự cắm mốc với nhau, trong đó: có ông là người thực hiện).
Do đó, có căn cứ tin khi ông T2 còn sống đã chia cho các con mỗi người một phần đất trước khi các đương sự ký tên trong Văn bản phân chia tài sản thừa kế được công chứng ngày 31/7/2014 và anh chị em đã thống nhất với phần diện tích đất mỗi người được chia là sự thật. Như vậy, ý kiến thỏa thuận giữa nguyên đơn với ông K (theo Biên bản hòa giải ngày 07/01/2021) là ý chí tự nguyện của đương sự, không trái pháp luật và đạo đức xã hội (tại thời điểm thống nhất thỏa thuận), phù hợp với sự định đoạt của người tạo lập tài sản (cụ T2, theo sự thừa nhận của các đương sự; trong đó có sự chuyển đổi vị trí giữa bà H và ông K) thuộc về nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự nên có giá trị ràng buộc với các bên và các chủ thể khác có nghĩa vụ tôn trọng theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Dân sự nên được pháp luật thừa nhận.
[5] Việc ông K thay đổi ý kiến về việc đất được cấp thuộc quyền sử dụng của ông nên nay ông không đồng ý tách cho mỗi người theo ý kiến hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã (theo đơn kháng cáo) không có căn cứ xem xét thỏa mãn.
Đối với ý kiến của ông T, bà D về việc “ông K hưởng thừa kế theo Văn bản phân chia tài sản thừa kế được công chứng ngày 31/7/2014 đúng quy định pháp luật nên ý kiến giữ nguyên các thửa đất ông K được cấp giấy” và thực hiện việc kháng cáo tương tự nội dung này để yêu cầu quyền cho ông K không đảm bảo quy định về kháng cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm trả đơn theo quy định pháp luật. Song, cũng cần xác định để ông T, bà D, ông Út H2 biết cụ thể như sau: thực tế phần đất bà D được phân chia đã bán/chuyển nhượng cho ông K với số tiền 215.000.000 đồng (theo sự tự thừa nhận của ông K – Bút lục: ....); ông Út H2, ông T đang quản lý, sử dụng nhà đất lần lượt tại tại vị trí G (diện tích 295,9m²), vị trí H (diện tích 470,7m²) nên được xem đã đảm bảo quyền lợi hợp pháp. Do đó, việc đương sự có ý kiến khác với những chị em còn lại (nguyên đơn) không được xác định là lời khai khách quan. Nên không là cơ sở xem xét lời khai này cho ý kiến của bị đơn trong vụ án.
[6] Do đó, việc cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Trên cơ sở đó, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp nên không có cơ sở chấp nhận.
[7] Bên cạnh đó, việc ông K sử dụng cụm từ (trong đơn kháng cáo) và ông T, bà D, ông Út H2 cùng sử dụng trong văn bản thể kiện ý kiến (sau xét xử sơ thẩm) về việc “300.000.000 đồng là tiền của cha các đương sự (cụ Nguyễn Văn T2) bà H chiếm đoạt nên trả lại, chứ không hùn hạp cất nhà gì”; trong khi tiến trình tố tụng tại cấp sơ thẩm có thể hiện ý chí của ông K có nhận và đồng ý trả lại số tiền 300.000.000 đồng (Bút lục: 21 –> 24) nên việc lý giải (mới) cho yêu cầu kháng cáo hay giải trình thay của người liên quan nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền về sự việc “chiếm đoạt” nên được xem là lời trình bày không có căn cứ, làm ảnh hưởng đến người khác. Do đó, cần nghiêm khắc phê phán việc sử dụng từ ngữ với nhau trong nhân dân, cũng như giữa anh chị em trong gia đình. Ông K, ông Út H2, ông T, bà D cần chấn chỉnh mình để đảm bảo quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân trong sinh hoạt và đời sống nhằm xây dựng xã hội tiến bộ, văn minh, hiện đại, sống có nghĩa có tình; đặc biệt giữ gìn tình cảm gia đình huyết thống, là tấm gương sáng cho con cháu trong gia đình noi theo.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên đương sự phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
[9] Những phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành và đảm bảo giá trị pháp lý ràng buộc nên không xem xét.
Tuy nhiên, việc tuyên số tiền lẻ về chi phí, định giá tài sản tranh chấp dẫn đến không khả thi trong giai đoạn thi hành án. Bởi lẽ, đơn vị tiền tệ được xác định là Việt Nam đồng hiện nay (VNĐ) không bao gồm đơn vị lẻ của hàng chục và hàng đơn vị. Mặc dù, không thuộc phạm vi kháng cáo nhưng cấp phúc thẩm xét thấy cần thiết điều chỉnh các con số theo phương thức làm tròn nên điều chỉnh về cách tuyên trong phạm vi luật định nhằm góp phần đảm bảo trong khâu thi hành án. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm chung.
[10] Từ những phân tích trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hữu K.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 106/2023/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ (có điều chỉnh về cách tuyên).
Áp dụng:
- Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Các Điều 166 và 203 Luật Đất đai năm 2013.
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H, bà Nguyễn Thị Hồng M, bà Nguyễn Thị Phú C, bà Nguyễn Thị Bích V.
- Công nhận cho bà Nguyễn Thị Cẩm H được quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp 358,6m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT) tại vị trí A.
- Công nhận cho bà Nguyễn Thị Phú C được quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp 302,2m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT) tại vị trí B.
- Công nhận cho bà Nguyễn Thị Hồng M được quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp 349,0m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT) tại vị trí C.
- Công nhận cho bà Nguyễn Thị Bích V được quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp 274,3m², loại đất ODT + CLN (có 37, 5m² đất ODT) tại vị trí E.
Các diện tích bà H, bà C, bà M, bà V được công nhận nêu trên đều thuộc một phần thửa 114, tờ bản đồ số 01, tọa lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ do ông Nguyễn Hữu K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00917 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 26/8/2014. Vị trí, kích thước các cạnh của các phần đất trên được xác định theo Bản trích đo địa chính số 465/TTKTTNMT ngày 18/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C (Đính kèm).
* Đương sự có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền để hoàn chỉnh thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với phần đất trên theo quy định.
Ông Nguyễn Hữu K có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm H số tiền 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu hủy Văn bản phân chia tài sản thừa kế được công chứng số 110/8, quyển số 01/2014/TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C1 chứng nhận ngày 30/8/2014; Văn bản phân chia tài sản thừa kế được công chứng số 108/7, quyển số 01/2014/TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C1 chứng nhận ngày 31/7/2014 và yêu cầu chia di sản thừa kế tại các thửa đất 510, 442; nếu có tranh chấp thì đương sự có quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật.
3. Về chi phí thẩm định, định giá tài sản:
- Đối với thửa 510, 442: Các nguyên đơn bà H, bà M, bà C, bà V phải chịu chi phí 6.933.000 đồng (Sáu triệu chín trăm ba mươi ba nghìn đồng) – đã thực hiện xong.
- Đối với thửa 114: số tiền 8.300.000 đồng (nguyên đơn đã nộp tạm ứng).
+ Các nguyên đơn bà H, bà M, bà C, bà V phải chịu chi phí 5.311.000 đồng (Năm triệu ba trăm mười một nghìn đồng) – đã thực hiện; Ông K phải chịu và trả lại cho nguyên đơn số tiền 2.989.000 đồng (Hai triệu chín trăm tám mươi chín nghìn đồng).
4. Về chi phí giám định:
Các nguyên đơn bà H, bà M, bà C, bà V phải chịu 7.025.000 đồng (Bảy triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) – đã thực hiện xong.
5. Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm:
+ Ông Nguyễn Hữu K phải chịu 16.200.000₫ (Mười sáu triệu hai trăm nghìn đồng).
+ Bà Nguyễn Thị Cẩm H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 4.822.500₫ (Bốn triệu tám trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền số 0004194 ngày 14/02/2022.
+ Bà Nguyễn Thị Bích V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 4.822.500₫ (Bốn triệu tám trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền số 0004193 ngày 14/02/2022.
+ Bà Nguyễn Thị Phú C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 4.822.500₫ (Bốn triệu tám trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền số 0004193 ngày 14/02/2022.
- Án phí phúc thẩm:
Ông Nguyễn Hữu K phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí thành án phí phải chụ - đã thực hiện xong.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Trang Thư |
Bản án số 199/2024/DS-PT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp mở lối đi qua bất động sản liền kề.
- Số bản án: 199/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp mở lối đi qua bất động sản liền kề.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ
