Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 198/2023/DS-ST

Ngày: 24 - 8 - 2023

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đặng Thị Mỹ Hường
  2. Bà Phan Hoàng Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Ngọc Mến – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 266/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2023 về “tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 374/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 356/2023/QĐST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S2;

Trụ sở: số B - B đường N, Phường H, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh S, chức vụ: Giám đốc chi nhánh A;

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Chu Toàn T, chức vụ: chuyên viên quản lý nợ;

Địa chỉ nơi làm việc: Ngân hàng thương mại cổ phần S2 Chi nhánh A; số 333 đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh S1, sinh năm 1984;

Cư trú: Tổ A, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, ông T đại diện cho nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin vắng mặt; ông S1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần S2 (viết tắt là Ngân hàng) trình bày:

Ngày 13 tháng 10 năm 2018, ông Nguyễn Minh S1 có ký kết với Ngân hàng thương mại cổ phần S2 (viết tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bảng Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng kèm theo). Theo nội dung Hợp đồng, Ngân hàng đã căn cứ vào thu nhập của ông S1 để đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 19.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông S1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 199.446.403 đồng và ông S1 đã thanh toán được 202.377.382 đồng. Đến ngày 22 tháng 11 năm 2022, ông S1 không còn thực hiện trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu ông S1 có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn; nhưng ông S1 vẫn không có thiện chí trả nợ, chưa thanh toán, vi phạm các điều khoản quy định tại hợp đồng đã ký kết. Tính đến ngày 20 tháng 4 năm 2023, ông S1 còn nợ số tiền cụ thể như sau: dư nợ gốc: 18.374.473 đồng; lãi 3.766.399 đồng; tổng cộng: 22.140.872 đồng.

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Minh S1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 12 tháng 7 năm 2023 là 24.253.110 đồng, trong đó: dư nợ gốc: 18.374.473 đồng; lãi quá hạn: 5.878.637 đồng. ông S1 có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 13 tháng 7 năm 2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn ông Nguyễn Minh S1: vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.

Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do, nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Tại phiên tòa: ông Chu Toàn T vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. ông Nguyễn Minh S1 vắng mặt và không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: căn cứ các chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện các bên có giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm pháp luật, nội dung các bên đã thỏa thuận quyền và nghĩa vụ các bên, số tiền, mục đích vay và thời hạn vay, phương thức trả nợ, cam kết trả nợ,... do đó giao kết hợp đồng các bên có giá trị pháp lý. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu ông S1 thực hiện nghĩa vụ trả vốn gốc, lãi là có cơ sở theo quy định tại các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị Hội đồng xét xử Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng khởi kiện ông Nguyễn Minh S1 yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng. Bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn thành phố L. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

[2] Về tố tụng: Bị đơn ông S1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; đại diện nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và ông S1 được xác lập theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 11807718/10/2018/AG ngày 13 tháng 10 năm 2018 và bảng Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng kèm theo, hợp đồng được ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong quá trình thực hiện hợp đồng phía ông S1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên cho vay. Trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án, ông S1 không cung cấp tài liệu, chứng cứ và ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Thể hiện ông S1 cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng có cơ sở để chấp nhận.

[3.2] Quá trình giao dịch rút tiền, trả lãi, phí và nợ gốc của ông S1 được thể hiện qua các Bảng tóm tắt sao kê ngày 20 tháng 4 năm 2023 (kèm theo đơn khởi kiện), bảng tóm tắt sao kê ngày 24 tháng 8 năm 2023. Xét thấy sau khi trừ số tiền ông S1 đã thanh toán thì xác định được số tiền dư nợ gốc tính đến thời điểm ông S1 dừng thanh toán, Ngân hàng có thông báo yêu cầu thanh toán, và đã chuyển sang nợ quá hạn là 18.374.473 đồng. Do đó, cần xác định đây là dư nợ gốc cuối cùng mà ông S1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

[3.3] Ông S1 không thanh toán số tiền đã rút đúng hạn cho Ngân hàng nên ngoài nghĩa vụ thanh toán nợ gốc thì ông S1 còn phải trả các khoản lãi, phí cho Ngân hàng theo các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà ông S1 đã ký với Ngân hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng xác định từ thời điểm ông S1 dừng thanh toán (ngày 22 tháng 11 năm 2022) thì số tiền ông S1 chưa thanh toán được xác định là dư nợ gốc và đã chuyển nợ quá hạn; Ngân hàng chỉ yêu cầu ông S1 phải trả lãi quá hạn tính trên số dư nợ gốc này. Yêu cầu này phù hợp với quy định tại Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; nên được chấp nhận để buộc ông S1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền lãi quá hạn từ ngày 23 tháng 11 năm 2022 tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (24 tháng 8 năm 2023) là: 6.972.929 đồng.

[3.4] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông S1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền 25.347.402 đồng (tính đến ngày 24 tháng 8 năm 2023). Đồng thời, kể từ ngày 24 tháng 8 năm 2023, buộc ông S1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí sơ thẩm; ông S1 phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 238, các Điều 271, 273, 278, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
  • Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S2 đối với ông Nguyễn Minh S1.

Buộc ông Nguyễn Minh S1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S2 tổng số tiền 25.347.402 đồng (hai mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn bốn trăm linh hai đồng) tạm tính đến ngày 24 tháng 8 năm 2023, trong đó: nợ gốc 18.374.473 đồng (mười tám triệu ba trăm bảy mươi bốn nghìn bốn trăm bảy mươi ba đồng), lãi quá hạn 6.972.929 đồng (sáu triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn chín trăm hai mươi chín đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (24 tháng 8 năm 2023) ông Nguyễn Minh S1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 11807718/10/2018/AG ngày 13 tháng 10 năm 2018 (và bảng Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng kèm theo) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 11807718/10/2018/AG ngày 13 tháng 10 năm 2018 (và bảng Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng kèm theo), các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Minh S1 phải chịu 1.267.370 đồng (một triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn ba trăm bảy mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần S2 không phải chịu án phí sơ thẩm nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 554.000 đồng (năm trăm năm mươi bốn nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001911 ngày 14 tháng 6 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

  1. Về quyền kháng cáo:

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (2);
  • - Chi cục THADS TP Long Xuyên (1);
  • - VKSND TP Long Xuyên (1);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Văn phòng (2);
  • - Lưu hồ sơ (1).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thùy Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 198/2023/DS-ST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 198/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu KK
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger