Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

—————————

Bản án số: 14/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 22/4/2024

V/v “Tranh chấp chia tài sản sau

khi ly hôn, hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất, hợp

đồng vay tài sản và hợp đồng

chuyển đổi quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Ngọc Vạng

Ông Huỳnh Thanh Mỹ

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký TAND tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:

Bà Vũ Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 22/4/2024 tại Trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2023/TLPT-HNGĐ, về việc “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất”.

Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 21/2023/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 10/2024/QĐ-PT

ngày 04 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thủy T, sinh năm 1979.

    Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

    Chỗ ở hiện nay: Số E, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

  • - Bị đơn: Anh Phan Quốc V, sinh năm 1976.

    Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Ông Phạm Quốc Đ, sinh năm 1976;

      Địa chỉ cư trú: Tổ E, ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

    2. Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1968;

    3. Chị Hoàng Thị Ngọc H, sinh năm 1994;

    4. Chị Hoàng Thị Yến N, sinh năm 1999;

    5. Anh Trần Minh Q, sinh năm 2000;

      Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

    6. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1974;

      Địa chỉ cư trú: Số A, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    7. Ông Hồ Mỹ A, sinh năm 1989;

      Địa chỉ cư trú: Số nhà B, đường P, khóm B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

    8. Bà Lâm Thị Kim B, sinh năm 1983;

      Địa chị cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    9. Anh Phan Văn N1, sinh năm 1968;

      Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường A, Thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

    10. Anh Phan Văn M, sinh năm 1970;

      Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    11. Chị Phan Tuyết M1, sinh năm 1984;

      Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    12. Ông Trần Minh Đ1, sinh năm 1949;

      Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

    13. Ông Trần Minh T1, sinh năm 1983;

      Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

    14. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1984;

      Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

    15. Cháu Phan Nguyễn Minh T2, ngày sinh ngày 01/4/2004.

    16. Cháu Phan Minh K, sinh ngày 02/9/2007.

      Người đại diện hợp pháp của Phan Minh K là chị Nguyễn Thị Thủy T3.

      Cùng địa chỉ cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

      Cùng chỗ ở hiện nay: Số E, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

  • 3. Người kháng cáo là chị Nguyễn Thị Thủy T3 là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T4 Tuyên là ông Võ Thành T5 trình bày: Chị Nguyễn Thị Thủy T3 và anh Phan Quốc V là vợ chồng, anh chị đã ly hôn và được Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự giải quyết bằng Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số 97/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22/11/2021, trong quyết định ghi nhận: Về hôn nhân: Anh chị thuận tình ly hôn; Về con chung: Chị T3 nuôi dưỡng, anh V không cấp dưỡng; Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên, do anh chị không thỏa thuận được tài sản chung, nên chị T3 khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn gồm:

  1. Phần đất thuộc thửa 843, diện tích 275m² (mục đích sử dụng: Đất ở đô thị), anh V là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang quản lý đất, chị T3 yêu cầu được chia diện tích 137,5m², đất trị giá 68.750.000đồng;

  2. Căn nhà trên phần đất thuộc thửa 843, có diện tích ngang 8m, dài 20m, trị giá 200.000.000đồng, chị T3 yêu cầu được quản lý, sử dụng căn nhà, thống nhất trả giá trị cho anh V là 100.000.000đồng;

  3. Phần đất thuộc thửa 399, diện tích 584m² (mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm), anh V là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng và đang quản lý đất, chị T3 yêu cầu được chia diện tích 292m², giá trị đất là 23.360.000đồng;

  4. Phần đất thuộc thửa 1759, diện tích 498,6m² (mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm), chị T3 yêu cầu được chia diện tích 249,3m², giá trị đất 117.500.000đồng.

Tất cả tài sản thuộc tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

Sau khi đo đạt thực tế thì chị T3 thay đổi yêu cầu, cụ thể như sau:

  1. Phần nhà gắn liền với đất thuộc thửa 843 và 400, diện tích 180,6m², có hai vị trí cụ thể như sau: Vị trí 3 (mốc 8, 9, 10, 11, 12, 13, 8) diện tích 151,8m² (trong đó diện tích xây dựng tầng 1 là 115,1m²; tầng 2 là 143,9m², thuộc một phần thửa 843), đất do hộ Phan Quốc V đứng tên, vị trí 4 (mốc 12, 13, 14, 15, 12) diện tích 28,8m² (trong đó diện tích xây dựng tầng 1 là 24,6m², tầng 2 là 31,5m², thuộc một phần thửa 400), đất do anh Trần Minh Q đứng tên. Chị T3 yêu cầu chia đôi và chị yêu cầu được nhận hiện vật, thống nhất chia giá trị nhà, đất cho anh V theo giá đã định của Hội đồng định giá.

    Về nguồn gốc phần đất được cha mẹ anh V cho vợ chồng sau khi anh chị cưới nhau (năm 2003). Đến năm 2004 thì vợ chồng cất căn nhà mái tôn, năm 2019 nhà được xây dựng mới như hiện nay, nên căn nhà là tài sản của vợ chồng cùng tạo lập. Việc cha mẹ cho đất chỉ nói miệng, không lập văn bản.

  2. Phần đất thuộc một phần thửa 316 và 844, diện tích 445,1m² (mục đích sử dụng: Đất nuôi trồng thủy sản), có hai vị trí cụ thể như sau: vị trí 1 (mốc 1, 2, 3, 4, 1) diện tích 177,7m², thửa 316; vị trí 2 (mốc 3, 4, 5, 6, 7, 3) diện tích 267,4m², thửa 844. Chị T3 yêu cầu chia đôi, chị yêu cầu được nhận hiện vật, thống nhất chia giá trị cho anh V theo giá đã định của Hội đồng định giá.

    Về nguồn gốc đất của cha mẹ anh V cho con gồm anh Phan Văn N1, chị Phan Tuyết M1, anh Phan Văn M, những người này có nợ tiền vợ chồng chị T3, nhưng không có khả năng trả, nên họ giao đất cho vợ chồng anh chị để cấn trừ nợ và anh V được cấp giấy quyền sử dụng đất năm 2007.

  3. Phần đất thuộc thửa số 1759, diện tích 498,6m² (mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm), chị T3 yêu cầu chia đôi và chị yêu cầu được nhận hiện vật, thống nhất chia giá trị cho anh V theo giá đã định của Hội đồng định giá. Về nguồn gốc đất có được là chị và anh V mua của bà Nguyễn Thị Y, hai bên lập hợp đồng mua bán tay, chị và anh V đã thanh toán tiền cho bà Y xong, nhưng bà Y chưa làm thủ tục sang tên chuyển nhượng.

Đối với tất cả yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Quốc Đ yêu cầu anh V trả tiền đặt cọc 272.000.000đồng (đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 1759) và bồi thường tiền cọc là 272.000.000đồng, tổng cộng 544.000.000đồng. Riêng phần tiền bơm cát thì ông Đ yêu cầu người được chia hiện vật là đất thì có nghĩa vụ trả cho ông số tiền bơm cát 42.360.000đồng. Thỏa thuận mua bán giữa ông Đ và anh V thì chị T3 không hay biết và ông Đ chỉ yêu cầu anh V, nên chị T3 không có ý kiến về yêu cầu của ông Đ, nếu Tòa án chấp nhận giao đất cho chị T3 sử dụng, chị thống nhất trả giá trị tiền bơm cát cho ông Đ.

  2. Anh Trần Minh Q yêu cầu chị và anh V thực hiện chuyển đổi thửa 400 (anh Q đứng tên) với thửa 399 (anh V đứng tên), chị T3 thống nhất theo trình bày và yêu cầu của anh Q.

  3. Bà Nguyễn Thị D yêu cầu anh V trả số tiền mượn còn nợ 130.000.000đồng; Bà Lâm Thị Kim B yêu cầu anh V trả số tiền mượn còn nợ 120.000.000đồng; Ông Hồ Mỹ A yêu cầu anh V trả số tiền mượn còn nợ 60.000.000đồng. Tất cả khoản nợ này anh V tự vay mượn chị T3 không hề hay biết và những người này chỉ yêu cầu anh V trả nợ, không liên quan đến chị T3, nên chị không có ý kiến. Nếu bà D, bà B, ông Mỹ A yêu cầu chị T3 có trách nhiệm liên đới cùng anh V trả tiền, chị T3 không thống nhất.

Đối với nội dung anh V tường trình ngày 13/3/2023 gửi đến tòa án: Thứ nhất, cha mẹ chị T3 (ông C, bà L1) không hứa cho đất vợ chồng anh chị, hiện tại cha mẹ chị T3 hiện vẫn còn sống và chưa chia tài sản gì cho các con; Thứ hai, các khoản tiền cha mẹ chị T3 và em gái chị T3 (chị T6) mượn tiền anh V, đều này chị T3 không hay biết, nếu thật sự có nợ thì anh V làm đơn yêu cầu trong vụ án khác; thứ ba, năm 2019 chị T3 có lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy cũ) của mẹ chồng là Nguyễn Thị N2 để thế chấp cho ông Lê Văn S vay số tiền 100.000.000đồng, số tiền này chị T3 vay dùm cho chị Phan Tuyết M1. Nhưng sau này chị T3 đã trả tiền cho ông S xong (hiện ông S vẫn còn giữ giấy đât), nếu anh V cần thì chị T3 sẽ lấy giấy chứng nhận trả lại cho anh V. Nhưng theo chị T3 được biết thì bà N2 đã làm thủ tục đổi giấy và cũng đã chuyển nhượng cho người khác, nên giấy đất ông S giữ không còn giá trị.

- Bị đơn anh Phan Quốc V trình bày:

  1. Nguồn gốc đất thửa 843, tờ bản đồ số 23, diện tích 275m² (mục đích sử dụng: Đất ở đô thị), tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp của cha mẹ anh tên ông Phan Văn C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N2. Khi cha anh còn sống thì vào năm 2002 cha mẹ anh đã cho đất cá nhân anh. Đến năm 2003 anh cưới chị T3, năm 2007 anh mới đi đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp giấy cho hộ Phan Quốc V. Nay theo đo đạt thực tế thì nhà gắn gắn liền với đất có hai vị trí, diện tích cụ thể như sau: Vị trí 3 diện tích 151,8m² (trong đó diện tích xây dựng tầng 1 là 115,1m²; tầng 2 là 143,9m²), thuộc một phần thửa 843, anh V đứng tên quyền sử dung và vị trí 4 diện tích 28,8m² (trong đó diện tích xây dựng tầng 1 là 24,6m2, tầng 2 là 31,5m²), thửa 400, do anh Trần Minh Q đứng tên quyền sử dụng, hai vị trí cùng tờ bản đồ số 23.

  2. Nguồn gốc đất thửa 399, tờ bản đồ số 23, diện tích 584m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp cũng của cha mẹ anh, nhưng vào năm 2002 đã cho các anh em anh gồm: Anh Phan Văn N1, anh Phan Văn M, chị Phan Tuyết M1. Do các anh em anh không có tiền đóng thuế và gia đình chỉ có anh biết rành chữ nghĩa, nên thống nhất anh đi đăng ký và đứng tên quyền sử dụng đất. Năm 2007 anh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (cấp giấy cùng thời điểm với phần đất cha mẹ cho anh).

    Nay theo đo đạt thực tế vị trí 1 có diện tích 177,7m², thửa 316 và vị trí 2 diện tích 267,4m², thuộc một phần thửa 844, mục đích sử dụng đất nuôi trồng thủy sản.

  3. Nguồn gốc đất thửa số 1759, tờ bản đồ số 23, diện tích 498,6m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, là của cá nhân anh mua của bà Nguyễn Thị Y, anh đã trả tiền xong, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Vì chị T3 viết chữ đẹp nên anh có nhờ chị viết dùm hợp đồng mua bán (thời điểm này anh và chị T3 vẫn còn sống chung).

Anh không thống nhất tất cả yêu cầu chia tài sản chung của chị T3. Vì nhà gắn liền với đất thuộc thửa 843, thửa 400 là của cha mẹ cho anh trước thời kỳ hôn nhân và do anh vay mượn tiền bên ngoài để xây cất, thời điểm xây nhà thì anh và chị T3 đã ly thân; Phần đất thuộc thửa 316, thửa 844 là của cha mẹ cho anh em anh gồm anh N1, anh M1, chị Tuyết M1, nên không phải tài sản chung của vợ chồng; đất thửa số 1759 là của cá nhân anh mua của bà Y, không phải tài sản chung, để có tiền mua đất anh đã mượn của bà Nguyễn Thị D 130.000.000đồng; bà Lâm Thị Kim B 120.000.000đồng; anh Hồ Mỹ A, 60.000.000đồng, khi mượn tiền chị T3 không hay biết, khi mượn được tiền thì anh nhờ chị T3 trả cho bà Y. Tiền cất nhà anh mượn của chị Phan Minh T7 50.000.000đồng, bà Nguyễn Thị P (mẹ của chị T7) 50.000.000đồng, anh Phan Sơn N3 7.000.000đồng, ông Phạm Quốc Đ 272.000.000đồng, về các khoản tiền mượn cất nhà chị T3 không hay biết.

Nếu Tòa án chấp nhận theo yêu cầu chia tài sản chung của chị T3, thì anh yêu cầu chị T3 có trách nhiệm cùng anh trả tất cả những khoản nợ trên.

Đối với đất thuộc vị trí 4, thửa 400, diện tích 28,8m² (theo sơ đồ bản vẽ) thì giữa anh, chị T3 và anh Q có gặp mặt để đổi đất với nhau, chính vì vậy trên giấy tờ thì anh Q đứng tên, nhưng thực tế thì anh là người trực tiếp sử dụng.

Đối với yêu cầu độc lập của ông Đ, anh thống nhất tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như thỏa thuận và ông Đ có nghĩa vụ trả số tiền còn lại cho anh. Đối với phần đất anh mua của bà Y, thì anh yêu cầu bà Y tiếp tục thực hiện hợp đồng cho cá nhân anh.

- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Quốc Đ là bà Lê Thị Ngọc T8 trình bày: Ngày 11/01/2022 anh V có bán cho ông Đ phần đất ngang 9,5m, dài 52m, tổng diện tích 494m², đất tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (nay theo đo đạt thực tế đất có diện tích 498,6m², thửa 1759, tờ bản đồ số 23), do anh V đứng tên quyền sử dụng, với giá 700.000.000đồng, ông Đ có đặt cọc trước số tiền 272.000.000đồng, khi nào làm xong thủ tục sang tên ông Đ sẽ đưa số tiền còn lại 428.000.000đồng, hai bên có làm hợp đồng mua bán viết tay, anh V đã giao cho ông Đ quản lý đất. Ông Đ đã bơm cát san lấp đối với phần đất trên.

Nay chị T3 khởi kiện anh V yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn, ông Đ yêu cầu anh V trả lại số tiền đặt cọc 272.000.000đồng, bồi thường tương đương số tiền đặt cọc 272.000.000đồng và số tiền san lấp cát 80.000.000đồng, tổng cộng các khoản là 624.000.000đồng (sáu trăm hai mươi bốn triệu đồng).

Nhưng qua định giá thì giá cát san lấp 120.000đồng/m³, nên ông Đ thống nhất giá của hội đồng đã định. Ông Đ yêu cầu anh V trả lại số tiền đặt cọc 272.000.000đồng, bồi thường tương đương số tiền đặt cọc 272.000.000đồng và tiền san lấp cát có giá 120.000đồng/m³ x 353m³ = 42.360.000đồng. Tổng cộng các khoản yêu cầu là 586.360.000đồng. Ông Đ chỉ yêu cầu cá nhân anh V trả tiền, không yêu cầu chị T3. Tại phiên Toà, bà T8 thay đổi yêu cầu tiền bơm cát, nếu Tòa án giao đất cho ai sử dụng thì người đó có nghĩa vụ trả tiền bơm cát 42.360.000đồng (bốn mươi hai triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) cho ông Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Minh Q trình bày: Nguồn gốc đất gia đình anh ở là của cha anh V là ông Phan Văn C1, sau khi ông nội anh là ông Trần Văn Đ2 đi tù Cách mạng về thì ở trên đất từ năm 1978, nên ông nội anh đã trả thành quả lao động cho ông C1, giữa các bên có lập biên bản giải quyết ngày 21/12/1998. Sau đó gia đình anh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà nội anh tên C2 đứng giấy, sau khi bà mất thì ông nội anh đứng tên và hiện tại phần đất này do anh đứng tên quyền sử dụng (cấp đổi năm 2022). Ngày 17/01/2018 gia đình anh và vợ chồng anh V, chị T3 có thỏa thuận đổi đất với nhau. Mặc dù trên giấy tờ anh đứng tên thửa 400, tờ bản đồ số 23, nhưng thực tế nhà ở trên phần đất của vợ chồng anh V đứng tên giấy. Sau khi thỏa thuận đổi đất thì gia đình anh nhiều lần yêu cầu vợ chồng anh V đổi giấy chứng nhận cho phù hợp với người sử dụng thực tế, nhưng anh chị vẫn chưa thực hiện.

Theo sơ đồ đo đạc thực tế thì căn nhà gia đình anh có tổng diện tích 34m², cụ thể:

  • - Vị trí 1 (mốc 1, 2, 3, 4, 7, 1) diện tích 27,4m², thuộc một phần thửa 399, tờ bản đồ số 23 do hộ anh V đứng tên quyền sử dụng;

  • - Vị trí 2 (mốc 4, 5, 6, 7, 4) diện tích 6,6m², thuộc một phần thửa 400, tờ bản đồ số 23, do anh Q đứng tên quyền sử dụng.

Nay anh yêu cầu anh V và chị T3 thực hiện thỏa thuận chuyển đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đo đạc thực tế vị trí 1 có diện tích tổng diện tích 27,4m², thuộc một phần thửa 399, tờ bản đồ số 23 do hộ anh V đứng tên quyền sử dụng. Anh thống nhất làm thủ tục chuyển giấy phần đất anh đứng tên diện tích 28,8m², thửa 400 sang vợ chồng anh V theo đúng thực tế các bên sử dụng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh Đ1, ông Trần Minh T1 và bà Nguyễn Thị L thống nhất theo trình bày và yêu cầu của anh Q.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Y trình bày: Ngày 22/4/2018 gia đình bà gồm bà Nguyễn Thị Y, chị Hoàng Thị Ngọc H và chị Hoàng Thị Yến N có thỏa thuận chuyển nhượng phần đất ngang 9,5m, dài 50m, tổng diện tích 475m², thửa 310, tờ bản đồ số 23, đất tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp cho vợ chồng anh V, chị T3 với giá 235.000.000đồng, gia đình bà đã nhận tiền xong và đã giao đất cho vợ chồng anh V, chị T3 quản lý, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Nay gia đình bà thống nhất làm thủ tục sang tên theo thỏa thuận cho vợ chồng anh V, chị T3 theo đo đạt thực tế diện tích 498,6m², thửa 1759, tờ bản đồ số 23. Còn việc vợ chồng anh V, chị T3 tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn, bà không có yêu cầu hay tranh chấp với các đương sự trong vụ kiện.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D yêu cầu độc lập yêu cầu anh V trả số tiền mượn còn nợ 130.000.000đồng; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Kim B yêu cầu độc lập yêu cầu anh V trả số tiền mượn còn nợ 120.000.000đồng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hồ Mỹ A yêu cầu độc lập yêu cầu anh V trả số tiền mượn còn nợ 60.000.000đồng. Từ khi thụ lý yêu cầu độc lập đến nay, Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông bà vẫn không đến Toà để trình bày ý kiến cũng như tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phan Văn N1, anh Phan Văn M và chị Phan Tuyết M1: Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh chị vẫn không đến Toà để trình bày ý kiến.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cháu Phan Nguyễn Minh T2 và Phan Minh K thống nhất theo trình bày của chị T3.

* Tại quyết định của bản án sơ thẩm số 21/2023/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thủy T3.

    1. Buộc anh Phan Quốc V chia ½ giá trị tài sản quyền sử dụng đất diện tích 180.6m², thửa 843 và một phần thửa 400 cho chị Nguyễn Thị T4 Tuyên số tiền 471.095.000đồng (bốn trăm bảy mươi mốt triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Anh Phan Quốc V được hưởng 471.095.000đồng (bốn trăm bảy mươi mốt triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

    2. Buộc anh Phan Quốc V chia ½ giá trị tài sản căn nhà cho chị Nguyễn Thị T4 Tuyên số tiền 344.530.000đồng (ba trăm bốn mươi bốn triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng). Anh Phạn Quốc V1 được hưởng số tiền là 344.530.000đồng (ba trăm bốn mươi bốn triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).

      Anh Phan Quốc V được tiếp tục quản lý, sử dụng căn nhà gắn liền với đất diện tích 180.6m², có vị trí 3 (mốc 8, 9, 10, 11, 12, 13, 8) diện tích 151,8m² (trong đó diện tích xây dựng tầng 1 là 115,1m²; tầng 2 là 143,9m², hộ Phan Quốc V đứng tên quyền sử dụng), thửa 843 và vị trí 4 (mốc 12, 13, 14, 15, 12) diện tích 28,8m² (trong đó diện tích xây dựng tầng 1 là 24,6m², tầng 2 là 31,5m², anh Trần Minh Q đứng tên quyền sử dụng), thuộc một phần thửa 400, cùng tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

    3. Buộc anh Phan Quốc V chia ½ giá trị tài sản quyền sử dụng đất diện tích 445,1m², một phần thửa 316 và 844 cho chị Nguyễn Thị T4 Tuyên số tiền 50.943.500đồng (năm mươi triệu chín trăm bốn mươi nghìn năm trăm đồng). Anh Phan Quốc V được hưởng số tiền là 50.943.500đồng (năm mươi triệu chín trăm bốn mươi nghìn năm trăm đồng).

      Anh Phan Quốc V được tiếp tục quản lý, sử dụng đất diện tích 445,1m², có vị trí 1 (mốc 1, 2, 3, 4, 1) diện tích 177,7m², thuộc thửa 316 và vị trí 2 (mốc 3, 4, 5, 6, 7, 3) diện tích 267,4m², thuộc thửa 844, cùng tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

    4. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 498,6m², thửa số 1759, tờ bản đồ số 23, giữa hộ bà Nguyễn Thị Y gồm bà Nguyễn Thị Y, chị Hoàng Thị Ngọc H và chị Hoàng Thị Yến N với chị Nguyễn Thị Thủy T3 và anh Phan Quốc V. Bà Nguyễn Thị Y, chị Hoàng Thị Ngọc H và chị Hoàng Thị Yến N có nghĩa vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị T4 Tuyên có diện tích 498,6m², thửa số 1759, tờ bản đồ số 23 (hộ bà Nguyễn Thị Y ghi tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

      Buộc chị Nguyễn Thị T4 Tuyên chia 1/2 giá trị quyền sử dụng đất diện tích 498,6m² thuộc thửa số 1759, tờ bản đồ số 23 cho anh Phan Quốc V số tiền 123.338.000đồng (một trăm hai mươi ba triệu ba trăm ba mươi tám nghìn đồng). Chị Nguyễn Thị Thủy T3 được hưởng số tiền là 123.338.000đồng (một trăm hai mươi ba triệu ba trăm ba mươi tám nghìn đồng).

  2. Để thuận tiện trong quá trình thi hành án cần phải cấn trừ nghĩa vụ như sau:

    Anh Phan Quốc V có nghĩa vụ chia 1/2 giá trị tài sản cho chị T3 các khoản 471.095.000đồng + 344.530.000đồng + 50.943.500đồng = 866.568.500đồng trừ cho số tiền chị Nguyễn Thị Thủy T3 có nghĩa vụ chia ½ giá trị tài sản 123.338.000đồng. Như vậy anh V có nghĩa vụ trả thêm cho chị T3 số tiền là 743.230.500đồng (bảy trăm bốn mươi ba triệu hai trăm ba mươi nghìn năm trăm đồng).

  3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Quốc Đ.

    Buộc anh Phan Quốc V trả cho ông Phạm Quốc Đ số tiền đặt cọc 272.000.000đồng và bồi thường tiền cọc 272.000.000đồng, tổng cộng là 544.000.000đồng (năm trăm bốn mươi bốn triệu đồng)

    Buộc chị Nguyễn Thị Thủy T3 trả cho ông Phạm Quốc Đ số tiền san lấp cát 42.360.000đồng (bốn mươi hai triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

  4. Công nhận hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa anh Trần Minh Q với anh Phan Quốc V và chị Nguyễn Thị Thủy T9. Anh Phan Quốc V và chị Nguyễn Thị Thủy T3 có nghĩa vụ chuyển tên quyền sử dụng đất diện tích 27,4m², có vị trí 1 (mốc 1, 2, 3, 4, 7, 1) thuộc một phần thửa 399 (do hộ anh Phan Quốc V ghi tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) cho anh Trần Minh Q. Anh Trần Minh Q có nghĩa vụ chuyển tên quyền sử dụng đất diện tích 28,8m², có vị trí 4 (mốc 12, 13, 14, 15, 12), một phần thửa 400 (do anh Trần Minh Q ghi tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) cho anh Phan Quốc V, đất thuộc tờ bản đồ 23, tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị D về yêu cầu ông Phan Quốc V trả số tiền vay là 130.000.000đ (một trăm ba mươi triệu đồng).

  6. Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Lâm Thị Kim B về yêu cầu ông Phan Quốc V trả số tiền vay là 100.000.000đ ( một trăm triệu đồng).

  7. Đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Hồ Mỹ A về yêu cầu ông Phan Quốc V trả số tiền vay là 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng chẳn)..

Các bên đương sự đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, điều chỉnh, đăng ký biến động đối với diện tích đất được công nhận trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

(Kèm theo là Biên bản thẩm định tài sản đang tranh chấp, ngày 22/6/2022 và Biên bản thẩm định tài sản đang tranh chấp, ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự; Sơ đồ đo đạc số: 09/2023/SÐÐÐ/CNVPĐKĐĐ TPHN, ngày 27/7/2022; Sơ đồ đo đạc số: 10/2023/SÐÐÐ/CNVPĐKĐĐ TPHN, ngày 27/7/2022 và Sơ đồ đo đạc số: 12/2023/SÐÐÐ/CNVPĐKĐĐ TPHN, ngày 26/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H)

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Thủy T3 có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Phan Quốc V chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi bằng 50% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền chưa thi hành xong tại thời điểm thi hành án.

Kể từ ngày ông Phạm Quốc Đ có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Phan Quốc V và bà Nguyễn Thị Thủy T3 chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi bằng 50% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền chưa thi hành xong tại thời điểm thi hành án.

8. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  1. Buộc Nguyễn Thị Thủy T3 phải chịu 41.697.000đồng (bốn mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị tài sản chị T3 được hưởng; 2.118.000đồng án phí đối với phần tiền san lấp cát và 300.000đồng án phí phần công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hộ bà Y. Tổng cộng chị T3 phải chịu 44.115.000đồng (bốn mươi bốn triệu một trăm mười lăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí 7.740.000đồng theo biên lai số 0006519 vào ngày 04/4/2022. Chị T3 phải nộp thêm số tiền 36.375.000đồng (ba mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.

  2. Buộc anh Phan Quốc V phải chịu 41.697.000đồng (bốn mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị tài sản anh V được hưởng; 25.760.000đồng án phí đối với phần chấp nhận yêu cầu của ông Đ; 300.000đồng án phí đối với phần chuyển đổi quyền sử dụng đất với anh Q. Tổng cộng anh V phải chịu 67.757.000đồng (sáu mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn đồng)

  3. Hoàn trả cho ông Phạm Quốc Đ 14.480.000đồng (mười bốn triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0006649 ngày 25/8/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.

  4. Hoàn trả cho anh Trần Minh Q 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0001001 ngày 14/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.

  5. Tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông Hồ Mỹ A đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước theo biên lai số 0006837 ngày 07/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.

  6. Tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Lâm Thị Kim B đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước theo biên lai số 0006836 ngày 07/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố oơ Hồng Ngự.

  7. Tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị D đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước theo biên lai số 0006827 ngày 25/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố oơ Hồng Ngự.

9. Về chi phí xem xét thẩm định và định giá:

  • Buộc chị Nguyễn Thị T4 chịu 5.614.000đồng (năm triệu sáu trăm mười bốn nghìn đồng), đã nộp xong.

  • Buộc anh Phan Quốc V chịu 5.614.000đồng (năm triệu sáu trăm mười bốn nghìn đồng). Do chị T3, ông Đ và anh Q đã tạm ứng trước, nên anh V có nghĩa vụ trả lại cho anh Trần Minh Q số tiền 3.032.000đồng (ba triệu không trăm ba mươi hai nghìn đồng); trả cho ông Đ số tiền 800.000đồng (tám trăm nghìn đồng) và trả cho chị T3 số tiền 1.782.000đồng (một triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/9/2023, chị Nguyễn Thị Thủy T3 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu được toàn quyền sử dụng sỡ hữu căn nhà tọa lạc trên thửa đất 843 và thửa 400, tờ bản đồ số 23, có địa chỉ tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Chị T3 trả ½ giá trị bằng tiền đối với tài sản này cho anh V. Các tài sản tranh chấp còn lại thửa 316, 844 và 1759 tờ bản đồ số 23 địa chỉ tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp giao cho anh V. Chị T3 nhận ½ giá trị tài sản của các tài sản này.

Tại phiên tòa phúc thẩm chị Nguyễn Thị Thủy T3 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh tại phiên tòa là không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Thủy T3.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của chị Nguyễn Thị Thủy T9, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét phần đất diện tích 180,6m², có vị trí 3 diện tích 151,8m², thửa 843, do hộ Phan Quốc V đứng tên quyền sử dụng và vị trí 4 diện tích 28,8m², thửa 400, do anh Trần Minh Q đứng tên quyền sử dụng. Về nguồn gốc đất thì chị T3, anh V đều thừa nhận của cha mẹ anh V là ông C1 và bà N2. Sau khi anh chị cưới nhau năm 2003 thì được cha mẹ cho đất để cất nhà ở. Ngược lại, anh V cho rằng cha mẹ cho cá nhân anh từ năm 2002, đến năm 2003 anh chị mới cưới nhau, nên tài sản này không phải là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, ngoài văn bản ý kiến thì anh V không có chứng cứ nào khác chứng minh cha mẹ anh cho đất năm 2002. Đồng thời, xét thời điểm quản lý, sử dụng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 là cấp cho “hộ ông Phan Quốc V” và hộ gia đình đã gồm vợ chồng và các con của anh chị. Như vậy, tại thời điểm cấp giấy thì có căn cứ xác định ý chí của tất cả thành viên trong hộ anh V, trong đó có anh V, đã xác định phần đất là tài sản chung. Do đó có đủ căn cứ xác định đây là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, anh V cũng không có chứng cứ chứng minh công sức đóng góp, phát triển tài sản chung nhiều hơn chị T3, nên về nguyên tắc thì tài sản chung phải chia đôi, như Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định là phù hợp. Bên cạnh đó, trong tổng diện tích 180,6m² thì có 28,8m², thửa 400 do anh Q đứng tên. Chị T3, anh V và anh Q đều thừa nhận hai bên có thỏa thuận đổi đất với nhau. Mặc dù trên giấy chứng nhận anh V đứng tên phần đất anh Q sử dụng (thửa 399), anh Q đứng tên phần đất anh V sử dụng (thửa 400). Như đã nhận định, đây là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, nên thuộc tài sản chung của vợ chồng và chị T3, anh Q đã thống nhất sẽ thực hiện chuyển đổi quyền sử dụng đất đúng theo thực tế các bên sử dụng. Tuy nhiên, xét nguồn gốc đất là của cha mẹ anh V cho vợ chồng anh chị, để đảm bảo, gìn giữ tài sản của cha mẹ cho con và từ trước đến nay anh đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng. Nên việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của chị T3, giao cho anh V được tiếp tục quản lý, sử dụng đất; anh V có nghĩa vụ chia 1/2 giá trị tài sản cho chị T3 theo giá của Hội đồng định giá 5.217.000đồng/m² x 180,6m² = 942.190.200đồng, làm tròn số 942.190.000đồng, chị T3 được chia số tiền 471.095.000đồng, là phù hợp.

Đối với căn nhà trên đất thuộc thửa số 843 và 400, diện tích 180,6m², có vị trí 3 diện tích 151,8m² (trong đó diện tích xây dựng tầng 1 là 115,1m²; tầng 2 là 143,9m², thuộc một phần thửa 843) và vị trí 4 diện tích 28,8m² (trong đó diện tích xây dựng tầng 1 là 24,6m², tầng 2 là 31,5m², thuộc một phần thửa 400). Theo chị T3 trình bày thì nhà cất lần đầu năm 2004, đến năm 2019 vợ chồng anh chị xây mới như hiện nay. Riêng anh V cho rằng thời gian xây dựng nhà thì anh chị đã ly thân và số tiền xây nhà là của cá nhân anh vay mượn người khác, nhưng anh V không có căn cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Hội đồng xét xử xét xử xét thấy, căn nhà được xây dựng trong thời kỳ hôn nhân, nên là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, phần đất đã giao cho anh V tiếp tục quản lý, sử dụng, nên Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xét xử quyết định giao căn nhà cho anh V và anh V có nghĩa vụ trả ½ giá trị căn nhà cho chị T3, theo giá của Hội đồng định giá thì căn nhà có giá trị còn lại 689.060.000đồng, chị T3 được chia số tiền 344.530.000đồng, cũng hoàn toàn phù hợp.

Xét phần đất diện tích 445,1m², có vị trí 1 diện tích 177,7m², thửa 316 và vị trí 2 diện tích 267,4m², thửa 844. Về nguồn gốc đất thì chị T3, anh V đều thừa nhận của cha mẹ anh V là ông C1 và bà N2 cho các anh em anh V gồm anh Phan Văn N1, anh Phan Văn M và chị Phan Tuyết M1. Do những người này không có tiền đóng thuế, trong gia đình chỉ có anh rành chữ nghĩa, nên thống nhất để anh đăng ký và đứng tên quyền sử dụng. Tuy nhiên, chị T3 cho rằng anh N1, anh M1, chị Tuyết M1 có nợ tiền vợ chồng anh chị nên đã bán đất cho anh chị vào năm 2007 để cấn trừ nợ, đều này cũng phù hợp thời điểm đi kê khai đăng ký và đứng tên giấy đất của anh V. Bên cạnh đó, Tòa án cũng đã đưa anh N1, anh M1, chị Tuyết M1 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ vấn đề. Tuy nhiên, những người này đã được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập hợp lệ nhiều lần vẫn không đến và từ chối nhận văn bản của Tòa, nên Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào tài liệu, chứng có có trong hồ sơ vụ án để giải quyết là đúng. Như vậy, xác định đây là tài sản của cha mẹ anh V cho các anh em anh, nhưng anh V đã xác lập quyền sở hữu, sử dụng năm 2007, trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của anh V, chị T3. Nên yêu cầu chia đôi tài sản chung của chị T3 có cơ sở chấp nhận. Nhưng phần đất này cũng có nguồn gốc từ cha mẹ anh V, để đảm bảo gìn giữ tài sản của cha mẹ cho con và từ trước đến nay anh đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử giao cho anh V được tiếp tục quản lý, sử dụng đất, anh V có nghĩa vụ chia 1/2 giá trị tài sản cho chị T3 theo giá của Hội đồng định giá 286.000đồng/m² x 267,4m² = 76.476.400đồng; 143.000đồng/m² x 177,7m² = 25.411.100đồng, tổng cộng 101.887.500đồng, chị T3 được chia số tiền 50.944.000đồng là có cơ sở.

Đối với phần đất thửa 1759, diện tích 498,6m², chị T3, anh V đều thừa nhận mua từ gia đình bà Nguyễn Thị Y và các con bà là chị Hoàng Thị Ngọc H, chị Hoàng Thị Yến N với giá 235.000.000đồng, hai bên đã giao nhận tiền và đất xong, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Mặc dù hợp đồng mua bán không công chứng, chứng thực những đã được các bên thừa nhận, chị T3 là người trực tiếp lập hợp đồng. Đồng thời bà Y trình bày, bà chuyển nhượng đất cho vợ chồng anh V, chị T3 và thống nhất sang tên cho vợ chồng anh chị theo thỏa thuận. Tuy anh V không thừa nhận đây là tài sản chung của vợ chồng, nhưng anh không có chứng cứ chứng minh cho trình bày của mình. Đối với tài sản chung thuộc các thửa 843, thửa 400, thửa 316 và thửa 844 đã giao cho anh V được tiếp tục quản lý, sử dụng và anh V có nghĩa vụ chia ½ giá trị cho chị T3. Nên để đảm bảo cho chị T3 có chổ ở ổn định, nuôi dạy con, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử giao thửa 1759, diện tích 498,6m² cho chị T3 quản lý, sử dụng; chị T3 có nghĩa vụ chia ½ giá trị cho anh V, theo giá của Hội đồng định giá thì đất có giá 246.675.800đồng, làm tròn 246.676.000đồng, anh V được chia số tiền 123.338.000đồng, đồng thời công nhận hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất chị T3, anh V với gia đình bà Y. Gia đình bà Y gồm bà Y, chị H, chị N có nghĩa vụ thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho chị T3, là phù hợp.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, phía chị T3 cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị T3, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận kháng cáo của chị T3, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ và phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

[5] Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên chị T3 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 119 và Điều 328 Bộ luật Dân sự; Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 38, Điều 59 và Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  • - Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Thủy T3.

  • - Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 21/2023/HNGĐ - ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thủy T3.

    1. Buộc anh Phan Quốc V chia ½ giá trị tài sản quyền sử dụng đất diện tích 180.6m², thửa 843 và một phần thửa 400 cho chị Nguyễn Thị T4 Tuyên số tiền 471.095.000đồng (bốn trăm bảy mươi mốt triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Anh Phan Quốc V được hưởng 471.095.000đồng (bốn trăm bảy mươi mốt triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

    2. Buộc anh Phan Quốc V chia ½ giá trị tài sản căn nhà cho chị Nguyễn Thị T4 Tuyên số tiền 344.530.000đồng (ba trăm bốn mươi bốn triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng). Anh Phạn Quốc V1 được hưởng số tiền là 344.530.000đồng (ba trăm bốn mươi bốn triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).

      Anh Phan Quốc V được tiếp tục quản lý, sử dụng căn nhà gắn liền với đất diện tích 180.6m², có vị trí 3 (mốc 8, 9, 10, 11, 12, 13, 8) diện tích 151,8m² (trong đó diện tích xây dựng tầng 1 là 115,1m²; tầng 2 là 143,9m², hộ Phan Quốc V đứng tên quyền sử dụng), thửa 843 và vị trí 4 (mốc 12, 13, 14, 15, 12) diện tích 28,8m² (trong đó diện tích xây dựng tầng 1 là 24,6m², tầng 2 là 31,5m², anh Trần Minh Q đứng tên quyền sử dụng), thuộc một phần thửa 400, cùng tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

    3. Buộc anh Phan Quốc V chia ½ giá trị tài sản quyền sử dụng đất diện tích 445,1m², một phần thửa 316 và 844 cho chị Nguyễn Thị T4 Tuyên số tiền 50.943.500đồng (năm mươi triệu chín trăm bốn mươi nghìn năm trăm đồng). Anh Phan Quốc V được hưởng số tiền là 50.943.500đồng (năm mươi triệu chín trăm bốn mươi nghìn năm trăm đồng).

      Anh Phan Quốc V được tiếp tục quản lý, sử dụng đất diện tích 445,1m², có vị trí 1 (mốc 1, 2, 3, 4, 1) diện tích 177,7m², thuộc thửa 316 và vị trí 2 (mốc 3, 4, 5, 6, 7, 3) diện tích 267,4m², thuộc thửa 844, cùng tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

    4. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 498,6m², thửa số 1759, tờ bản đồ số 23, giữa hộ bà Nguyễn Thị Y gồm bà Nguyễn Thị Y, chị Hoàng Thị Ngọc H và chị Hoàng Thị Yến N với chị Nguyễn Thị Thủy T3 và anh Phan Quốc V. Bà Nguyễn Thị Y, chị Hoàng Thị Ngọc H và chị Hoàng Thị Yến N có nghĩa vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị T4 Tuyên có diện tích 498,6m², thửa số 1759, tờ bản đồ số 23 (hộ bà Nguyễn Thị Y ghi tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

      Buộc chị Nguyễn Thị T4 Tuyên chia 1/2 giá trị quyền sử dụng đất diện tích 498,6m² thuộc thửa số 1759, tờ bản đồ số 23 cho anh Phan Quốc V số tiền 123.338.000đồng (một trăm hai mươi ba triệu ba trăm ba mươi tám nghìn đồng). Chị Nguyễn Thị Thủy T3 được hưởng số tiền là 123.338.000đồng (một trăm hai mươi ba triệu ba trăm ba mươi tám nghìn đồng).

  2. Để thuận tiện trong quá trình thi hành án cần phải cấn trừ nghĩa vụ như sau:

    Anh Phan Quốc V có nghĩa vụ chia 1/2 giá trị tài sản cho chị T3 các khoản 471.095.000đồng + 344.530.000đồng + 50.943.500đồng = 866.568.500đồng trừ cho số tiền chị Nguyễn Thị Thủy T3 có nghĩa vụ chia ½ giá trị tài sản 123.338.000đồng. Như vậy anh V có nghĩa vụ trả thêm cho chị T3 số tiền là 743.230.500đồng (bảy trăm bốn mươi ba triệu hai trăm ba mươi nghìn năm trăm đồng).

  3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Quốc Đ.

    Buộc anh Phan Quốc V trả cho ông Phạm Quốc Đ số tiền đặt cọc 272.000.000đồng và bồi thường tiền cọc 272.000.000đồng, tổng cộng là 544.000.000đồng (năm trăm bốn mươi bốn triệu đồng)

    Buộc chị Nguyễn Thị Thủy T3 trả cho ông Phạm Quốc Đ số tiền san lấp cát 42.360.000đồng (bốn mươi hai triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

  4. Công nhận hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa anh Trần Minh Q với anh Phan Quốc V và chị Nguyễn Thị Thủy T9. Anh Phan Quốc V và chị Nguyễn Thị Thủy T3 có nghĩa vụ chuyển tên quyền sử dụng đất diện tích 27,4m², có vị trí 1 (mốc 1, 2, 3, 4, 7, 1) thuộc một phần thửa 399 (do hộ anh Phan Quốc V ghi tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) cho anh Trần Minh Q. Anh Trần Minh Q có nghĩa vụ chuyển tên quyền sử dụng đất diện tích 28,8m², có vị trí 4 (mốc 12, 13, 14, 15, 12), một phần thửa 400 (do anh Trần Minh Q ghi tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) cho anh Phan Quốc V, đất thuộc tờ bản đồ 23, tọa lạc tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị D về yêu cầu ông Phan Quốc V trả số tiền vay là 130.000.000đ (một trăm ba mươi triệu đồng).

  6. Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Lâm Thị Kim B về yêu cầu ông Phan Quốc V trả số tiền vay là 100.000.000đ ( một trăm triệu đồng).

  7. Đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Hồ Mỹ A về yêu cầu ông Phan Quốc V trả số tiền vay là 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng chẳn)..

Các bên đương sự đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, điều chỉnh, đăng ký biến động đối với diện tích đất được công nhận trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

(Kèm theo là Biên bản thẩm định tài sản đang tranh chấp, ngày 22/6/2022 và Biên bản thẩm định tài sản đang tranh chấp, ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự; Sơ đồ đo đạc số: 09/2023/SÐÐÐ/CNVPĐKĐĐ TPHN, ngày 27/7/2022; Sơ đồ đo đạc số: 10/2023/SÐÐÐ/CNVPĐKĐĐ TPHN, ngày 27/7/2022 và Sơ đồ đo đạc số: 12/2023/SÐÐÐ/CNVPĐKĐĐ TPHN, ngày 26/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H)

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Thủy T3 có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Phan Quốc V chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi bằng 50% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền chưa thi hành xong tại thời điểm thi hành án.

Kể từ ngày ông Phạm Quốc Đ có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Phan Quốc V và bà Nguyễn Thị Thủy T3 chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi bằng 50% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền chưa thi hành xong tại thời điểm thi hành án.

8. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  1. Buộc Nguyễn Thị Thủy T3 phải chịu 41.697.000đồng (bốn mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị tài sản chị T3 được hưởng; 2.118.000đồng án phí đối với phần tiền san lấp cát và 300.000đồng án phí phần công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hộ bà Y. Tổng cộng chị T3 phải chịu 44.115.000đồng (bốn mươi bốn triệu một trăm mười lăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí 7.740.000đồng theo biên lai số 0006519 vào ngày 04/4/2022. Chị T3 phải nộp thêm số tiền 36.375.000đồng (ba mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.

  2. Buộc anh Phan Quốc V phải chịu 41.697.000đồng (bốn mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị tài sản anh V được hưởng; 25.760.000đồng án phí đối với phần chấp nhận yêu cầu của ông Đ; 300.000đồng án phí đối với phần chuyển đổi quyền sử dụng đất với anh Q. Tổng cộng anh V phải chịu 67.757.000đồng (sáu mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn đồng)

  3. Hoàn trả cho ông Phạm Quốc Đ 14.480.000đồng (mười bốn triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0006649 ngày 25/8/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.

  4. Hoàn trả cho anh Trần Minh Q 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0001001 ngày 14/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.

  5. Tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông Hồ Mỹ A đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước theo biên lai số 0006837 ngày 07/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.

  6. Tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Lâm Thị Kim B đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước theo biên lai số 0006836 ngày 07/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố oơ Hồng Ngự.

  7. Tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị D đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước theo biên lai số 0006827 ngày 25/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố oơ Hồng Ngự.

9. Về chi phí xem xét thẩm định và định giá:

  • Buộc chị Nguyễn Thị T4 Tuyên chịu 5.614.000đồng (năm triệu sáu trăm mười bốn nghìn đồng), đã nộp xong.

  • Buộc anh Phan Quốc V chịu 5.614.000đồng (năm triệu sáu trăm mười bốn nghìn đồng). Do chị T3, ông Đ và anh Q đã tạm ứng trước, nên anh V có nghĩa vụ trả lại cho anh Trần Minh Q số tiền 3.032.000đồng (ba triệu không trăm ba mươi hai nghìn đồng); trả cho ông Đ số tiền 800.000đồng (tám trăm nghìn đồng) và trả cho chị T3 số tiền 1.782.000đồng (một triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn đồng).

- Về án phí phúc thẩm: chị Nguyễn Thị Thủy T3 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000025 ngày 22/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự (đã nộp xong).

- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

- Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Phòng KTNV&THA TAND Tỉnh;

- VKSND Tỉnh;

- TAND TP. Hồng Ngự;

- Chi cục THADS TP. Hồng Ngự;

- Đương sự;

- Lưu: VT, HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thuỷ

20

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGĐ-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 14/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: 1. Ông Phạm Văn S, sinh năm 1967; 2. Bà Trương Thị Nh, sinh năm 1978. - Bị đơn: 1. Ông Phạm Tấn C, sinh năm 1965; 2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger