Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - AN GIANG

Bản án số: 198/2025/DS-ST

Ngày 29 tháng 10 năm 2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Vân - Bà Trần Thanh Vân

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 263/2025/TLST-DS, ngày 08 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản - hợp đồng góp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 258/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số: 317/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Yến T, sinh năm 1990. Nơi cư trú: A N, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. Có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 1992. Nơi cư trú: 6*/7* khóm M, phường L, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Yến T trình bày:

Qua quen biết nên bà có tham gia góp hụi do bà Huỳnh Ngọc T1 làm chủ, cụ thể như sau:

  • - Dây 1 (mở hụi ngày 19/6/2023): Hụi 1.000.000 đồng, có 50 hụi viên, bà tham gia 01 phần, góp được 30 lần với số tiền 24.000.000 đồng.
  • - Dây 2 (mở hụi ngày 04/7/2023): Hụi 1.000.000 đồng, có 48 hụi viên, bà tham gia 01 phần, góp được 16 lần với số tiền 12.800.000 đồng.
  • - Dây 3 (mở hụi ngày 06/7/2023): Hụi 1.000.000 đồng, có 48 hụi viên, bà tham gia 01 phần, góp được 14 lần với số tiền 11.200.000 đồng.
  • - Dây 4 (mở hụi ngày 11/7/2023): Hụi 1.000.000 đồng, có 30 hụi viên, bà tham gia 01 phần, góp được 09 lần với số tiền 7.200.000 đồng.
  • - Dây 5 (mở hụi ngày 14/7/2023): Hụi 5.000.000 đồng, có 12 hụi viên, bà tham gia 01 phần, góp được 01 lần = 4.000.000 đồng.

Tổng số tiền bà góp hụi cho bà T1 là 59.200.000 đồng. Ngoài ra, bà T1 còn bán hụi cho bà nhiều dây hụi khác với số tiền 71.600.000 đồng.

Ngoài việc góp hụi, bà T1 còn vay tiền của bà, cụ thể như sau:

Ngày 11/7/2023, bà chuyển khoản từ tài khoản của bà số 70110000227899 ngân hàng B vào số tài khoản nhận của bà T1 số 0151000570316 ngân hàng VCB số tiền 100.000.000 đồng; tiếp theo ngày 12/7/2023, bà chuyển khoản từ tài khoản của bà số 70110000227899 ngân hàng B vào số tài khoản nhận của bà T1 số 0151000570316 ngân hàng V số tiền 200.000.000 đồng. Mục đích vay để đáo nợ ngân hàng, không thỏa thuận lãi suất và thời hạn trả nợ. Từ khi vay đến khi khởi kiện bà T1 không trả cho bà được khoản nợ gốc, nợ lãi nào.

Quá trình tố tụng, bà rút một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu bà T1 trả 200.800.000 đồng nợ hụi, chỉ yêu cầu bà T1 trả vốn vay 300.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là bản sao kê tài khoản tiền gửi khách hàng từ ngày 19/6/2023 đến ngày 20/7/2023 của Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh A; ảnh chụp màn hình điện thoại giao dịch chuyển khoản.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án bị đơn bà Huỳnh Ngọc T1 mặc dù được niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến T. Tại phiên tòa được mở lần thứ hai hôm nay, bà T1 tiếp tục vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của đương sự và đề xuất việc giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán chấp hành đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự về thụ lý giải quyết. Thủ tục tống đạt, niêm yết đúng quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử vụ án. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà T đối với số tiền hụi 200.800.000 đồng.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Huỳnh Ngọc T1 trả số tiền 300.000.000 đồng.

Đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bà T khởi kiện bà T1 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi. Bà T1 cư ngụ tại phường M, thành phố L (nay là phường L), tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang) thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng bà T1 là bị đơn vắng mặt không có lý do, bà T không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn bà Huỳnh Ngọc T1.

[2]. Về nội dung tranh chấp: Theo đơn khởi kiện, bà T khởi kiện yêu cầu bà T1 trả 200.800.000 đồng tiền nợ hụi và 300.000.000 đồng tiền vay. Tuy nhiên, quá trình tố tụng bà T rút một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu bà T1 trả nợ hụi 200.800.000 đồng; yêu cầu bà T1 trả vốn vay 300.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bản sao kê tài khoản tiền gửi khách hàng từ ngày 19/6/2023 đến ngày 20/7/2023 của Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh A; ảnh chụp màn hình điện thoại giao dịch chuyển khoản cho bà Huỳnh Ngọc T1 mượn 100.000.000 đồng vào ngày 11/7/2023 và 200.000.000 đồng vào ngày 12/7/2023.

[3]. Theo phiếu xác minh về tình trạng cư trú của người tham gia tố tụng đối với bà Huỳnh Ngọc T1 tại Công an phường M, thành phố L ngày 06/6/2025, thể hiện: Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 1992 có đăng ký thường trú tại số F khóm M, phường M, thành phố L.

[4]. Quá trình giải quyết vụ án bà T1 được niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải; không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T1 trong vụ án này. Do bà T1 vắng mặt Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà T1 là bị đơn biết nhưng bị đơn vẫn không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của bà T. Phiên tòa được mở xét xử lần thứ hai, bà T1 tiếp tục vắng mặt không có lý do là đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại khoản 5 Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

[5]. Qua lời trình bày của nguyên đơn, xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, xét thấy bà T1 vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án tiến hành thủ tục tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện của bà T. Theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

Các tài liệu chứng cứ do bà T cung cấp là bản sao kê tài khoản tiền gửi của Ngân hàng TMCP Đ; ảnh chụp màn hình giao dịch chuyển khoản cho bà T1 mượn tiền. Bà T trình bày, sau khi nhận tiền vay 300.000.000 đồng, bà T1 chưa trả cho bà được khoản lãi nào.

Xét giao dịch dân sự giữa bà T và bà T1 xác lập trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại các Điều 116, 117, 118, 119 Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 nên phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ do bà T cung cấp nêu trên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T buộc bà T1 trả 300.000.000 đồng. Bà T không yêu cầu tính lãi, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Đối với việc bà T rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu bà T1 trả 200.800.000 đồng tiền hụi. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp quy định của luật. Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu đã rút của nguyên đơn.

Vậy tổng số tiền bà T1 có nghĩa vụ trả bà T là 300.000.000 đồng.

[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 6; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà T1 có nghĩa vụ chịu 15.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền bà T1 có nghĩa vụ trả cho bà T 300.000.000 đồng.

Yêu cầu khởi kiện của bà T được Hội đồng xét xử chấp nhận, nên bà T được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 244; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 466, 357, 468, 469 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (Được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Yến T đối với bà Huỳnh Ngọc T1. Buộc bà Huỳnh Ngọc T1 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Yến T 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng).

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Yến T về việc yêu cầu bà Huỳnh Ngọc T1 trả 200.800.000đ (Hai trăm triệu tám trăm nghìn đồng) tiền hụi.

Về án phí:

Bà Huỳnh Ngọc T1 có nghĩa vụ chịu 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Yến T được nhận lại 12.016.000₫ (Mười hai triệu không trăm mười sáu nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002626, ngày 02/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi gởi:

  • - Tòa án ND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Khu vực 9 - An Giang;
  • - Phòng Thi hành án dân sự - Khu vực 9;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 198/2025/DS-ST ngày 29/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản - hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 198/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản - hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Yến T đối với bà Huỳnh Ngọc T. Buộc bà Huỳnh Ngọc T có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Yến T 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng). Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Yến T về việc yêu cầu bà Huỳnh Ngọc T trả 200.800.000đ (Hai trăm triệu tám trăm nghìn đồng) tiền hụi.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger