Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:198/2024/HS-PT

Ngày 03 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Văn Sơn

Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Lễ và bà Trần Thị Thùy Hà.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 300/2024/TLPT- HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn G và đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn G, Trần Tuấn K, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 131/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Trần Văn G, sinh năm 1969 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Đ và bà Bùi Thị V; Bị cáo có vợ tên Trần Thị P và có 02 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/6/2024 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
  2. Trần Tuấn K, sinh ngày 23/6/1995 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: tài xế; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn G và bà Trần Thị P; Bị cáo có vợ tên Bùi Lê Thu Y và có 02 con; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/5/2024 đến nay và có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo G, bị cáo K: có bà Bùi Trần Phú T -Văn phòng luật sư Bùi Trần Phú T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A. Có mặt

Bị hại: Lê Văn N, sinh năm 1967. Nơi cư trú: số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)

2

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Thị P, sinh năm 1975. Nơi cư trú: số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
  2. Trần Tấn T1, sinh năm 1998. Nơi cư trú: số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
  3. Lê Thành X, sinh năm 1998. Nơi cư trú: số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
  4. Lê Thị H, sinh năm 2001. Nơi cư trú: số B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
  5. Nguyễn Thị Bé S, sinh năm 1971. Nơi cư trú: số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)

Người làm chứng: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1962 và Trần Thị Kiều N1, sinh năm 1965. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/8/2021, Trần Văn G, Trần Thị P (vợ của G) ngồi nói chuyện trước cửa nhà của G số D, khóm T, phường M, thành phố L thì P nhớ lại việc nhiều cây dừa do G trồng bị những người không rõ nhân thân chặt phá, nên chửi mắng những người chặt dừa. Lúc này, Lê Văn N đang đi bộ từ trong nhà N số D, khóm T, phường M ra nghe thấy. Nưỡng cho rằng P đang chửi mắng N nên N cự cãi với P, G thì Lê Thành X (con của N) và Trần Tuấn K, Trần Tấn T1 (con của G) cũng ra tham gia cự cãi. Khi đang cự cãi, X thách thức đánh nhau thì K chạy đến dùng tay đánh trúng mặt N. Thấy vậy, X, G, T1, P, Nguyễn Thị Bé S (vợ N), Lê Thị H (con N) cũng chạy ra để đánh nhau. X dùng tay đánh nhau với T1; S, H dùng tay đánh nhau với P; N dùng tay đánh nhau với K, G. Trong lúc đánh nhau, G dùng tay đánh N ngã xuống đường, sau đó G, K dùng tay đánh, dùng chân đạp nhiều cái trúng vùng ngực, bụng của N gây thương tích thì được các ông bà Trần Thanh L, Trần Thị Kiều N1 (hàng xóm) đến can ngăn. Sau đó, N được đưa đến Bệnh viện Đ2 điều trị đến ngày 01/9/2021 ra viện. Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 15.000.000 đồng do Trần Văn G, Trần Tuấn K giao nộp.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 418/21/TgT ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Lê Văn N sinh năm 1962, xác định các kết quả chính: Chấn thương ngực kín: Tràn máu màng phổi trái lượng ít: Điều trị bảo tồn. Gãy xương sườn VI, VII, VIII, IX, X trái. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của là 13%. Kết luận khác: Thương tích do vật tày gây nên.

3

Cáo trạng số: 117/CT-VKSLX ngày 13/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố các bị cáo Trần Văn G, Trần Tuấn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 131/2024/HS-ST ngày 12/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã quyết định: Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn G, Trần Tuấn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 134, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Tuấn K 08 (tám) tháng tù; xử phạt bị cáo Trần Văn G 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù của bị cáo G, bị cáo K tính ngày các bị cáo chấp hành hình phạt tù. Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, bồi thường thiệt hại cho bị hại và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại.

Ngày 17/9/2024, bị cáo Trần Văn G, bị cáo Trần Tuấn K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình, cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Văn G, bị cáo Trần Tuấn K vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn G, bị cáo Trần Tuấn K, sửa bản án sơ thẩm; áp dụng khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo G 06 tháng tù, bị cáo K 08 tháng tù, nhưng cho 2 bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách đối với bị cáo G 01 năm thử thách; bị cáo K 01 năm 04 tháng thử thách; giao các bị cáo cho địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị giữ nguyên.

Luật sư Bùi Trần Phú T bào chữa cho bị cáo Trần Văn G, bị cáo Trần Tuấn K: Thống nhất quan điểm đề xuất của Viện kiểm sát tại phiên tòa; tuy nhiên mong Hội đồng xét xử có xem xét thêm cho bị cáo các tình tiết khác như: Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, lao động chính gia đình, bị cáo K là bộ đội xuất ngũ; con còn nhỏ; các bị cáo đã khắc phục toàn bộ tiền bồi thường thiệt hại; các bị cáo có nhân thân tốt, được địa phương xác nhận; đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng án treo để có thời gian ở bên ngoài xã hội, có điều kiện làm có tiền trả nợ cho số tiền khắc phục hậu quả cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

4

[1] Về hình thức: đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn G, bị cáo Trần Tuấn K làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung: quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo G, bị cáo K1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/8/2021, Trần Văn G, Trần Thị P (vợ của G) ngồi nói chuyện trước cửa nhà của G số D, khóm T, phường M, thành phố L, thì xảy ra cự cải và xô xát nhau; bị cáo Trần Văn G, Trần Tuấn K đã dùng tay đánh nhau với N. G dùng tay đánh N ngã xuống đường, sau đó G, K dùng tay đánh, dùng gối đè chấn đạp nhiều cái trúng vùng ngực, bụng của N gây thương tích cho bị hại Lê Văn N làm chấn thương ngực kín, tràn máu màng phổi trái, gãy xương sườn VI, VII, VIII, IX, X trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của là 13%. Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn G, bị cáo Trần Tuấn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo của bị cáo Trần Văn G, bị cáo Trần Tuấn K, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự nhân phẩm của con người được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là nhằm xâm phạm đến sức khỏe của con người. Trong vụ án này, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt nghi kỵ lẫn nhau, các bị cáo đã có hành vi dùng tay chân gây thương tích cho bị hại.

Trong giai đoạn phúc thẩm các bị cáo G, bị cáo K đã khắc phục bồi thường thêm cho bị hại số tiền 15.000.000đ, xem như đã bồi thường đủ cho bị hại, như quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên.

[5] Xét thấy, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho

5

bị hại; bị cáo K là bộ đội xuất ngũ, con còn nhỏ, là lao động chính của gia đình; các bị cáo đã hội đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó việc bắt bị cáo G, bị cáo K chấp hành hình phạt tù là không cần thiết, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương; là hoàn toàn phù hợp quy định được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; thời gian thử thách tại địa phương, cũng đủ giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt cho hưởng án treo đối với bị cáo G, bị cáo K; xử phạt bị cáo K 08 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 04 tháng; bị cáo G 06 tháng tù cho bị hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ giáo dục, cải tạo bị cáo; đề nghị của Viện kiểm sát và luận cứ của Luật sư tại phiên tòa cho các bị cáo hưởng án treo là đồng quan điểm với Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tuấn K, bị cáo Trần Văn G về việc xin hưởng án treo.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 131/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn G, bị cáo Trần Tuấn K phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Căn cứ vào khoản 1 Điều 134; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Tuấn K 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm, 04 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

6

Xử phạt bị cáo Trần Văn G 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn G, Trần Tuấn K cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Buộc bị cáo Trần Văn G, Trần Tuấn K phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Lê Văn N số tiền 30.000.000 đồng,

Tiếp tục quản lý số tiền 30.000.000 đồng do các bị cáo nộp khắc phục hậu quả theo biên lai thu số 0001268 ngày 05/7/2024 và biên lai thu số 0001412 ngày 28/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang để đảm bảo thi hành án cho bị hại Lê Văn N.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Tuấn K, bị cáo Trần Văn G không phải chịu án phí phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

(đã giải thích chế độ án treo cho các bị cáo )

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Tp Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Tòa án nhân dân TP Long Xuyên;
  • - Công an TP Long Xuyên;
  • - Viện kiểm sát TP Long Xuyên;
  • - Chi cục THA DS TP Long Xuyên;
  • - Ủy ban nhân dân phường Mỹ Thới, TP Long Xuyên.
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo có kháng cáo;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; Toà Hình sự; HCTP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 198/2024/HS-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích (hình sự)

  • Số bản án: 198/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo G+ Kh cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger