|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 198/2024/HS-ST Ngày 25-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thuỷ.
- Bà Nguyễn Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Xuân Vượng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 191/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Công M, sinh năm 1996.
Quê quán: huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú: Bản C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Nơi tạm trú: Thôn Ả, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Con ông Lý Văn L, sinh năm 1974 và bà Lục Thị T, sinh năm 1975; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.
(Có mặt tại phiên tòa)
*Bị hại: Anh Ma Văn P, sinh năm 1997 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Múa Mi S, sinh năm 1974.
- Bà Giàng Thị C, sinh năm 1975.
- Chị Vàng Thị D, sinh năm 2001.
- Cháu Ma Văn H, sinh ngày 10/5/2019
Người đại diện hợp pháp của cháu H và người đại diện theo uỷ quyền của bà C, ông S là chị Vàng Thị D, sinh năm 2001.
Đều địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
(Chị D vắng mặt)
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH S2.
- Anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1989.
- Anh Vi Văn D1, sinh năm 1993.
Địa chỉ trụ sở: Lô B, B2, B3, B6, B7 Khu Công nghiệp S (phía Bắc), xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông J – Chức vụ: Tổng giám đốc.
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Vắng mặt)
*Người làm chứng:
- Anh Vũ Chí C1, sinh năm 1982.
- Anh Vũ Văn C2, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Công M, sinh năm 1996, trú tại bản Cầu Tư, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và anh Ma Xuân P1, sinh năm 1997, trú tại thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang ký hợp đồng lao động làm công nhân của Công ty TNHH S2 thuộc khu công nghiệp S - N, thành phố B. Hai người được phân công vào làm việc tại bộ phận đúc nhôm (lô B3) của Công ty TNHH S2. Trong đó, anh P1 được phân công nhiệm vụ đập hàng và kiểm hàng còn M được phân công nhiệm vụ vận hành máy đúc nhôm. Trước khi chính thức làm công nhân sản xuất tại bộ phận đúc nhôm, anh P1 và M đều được đào tạo, tập huấn quy định, nội quy về an toàn lao động, quy trình làm việc an toàn của Công ty TNHH S2 và được cấp thẻ chứng nhận.
Khoảng 08 giờ ngày 03/4/2024, Lý Công M và anh Ma Xuân P1 làm việc tại máy đúc nhôm kí hiệu 2200T# A04 của Công ty TNHH S2. M chịu trách nhiệm vận hành máy còn anh P1 làm nhiệm vụ dập hàng và kiểm hàng tại vị trí bên cạnh máy đúc nhôm.
Đến khoảng 09 giờ 25 phút cùng ngày, Lý Công M phát hiện bảng điều khiển của máy đúc nhôm có báo lỗi tại mút chân không của khuôn đúc, một ống hút chân không ở trên bị bật và máy tạm dừng hoạt động. Theo quy trình làm việc mà Công ty TNHH S2 ban hành khi phát hiện lỗi kỹ thuật và sự cố thì phải ấn nút dừng máy, báo cáo cấp trên xin ý kiến chỉ đạo. Tuy nhiên, M chủ quan cho rằng sự cố xảy ra không nghiêm trọng và có thể tự khắc phục, sửa chữa được nên không thực hiện theo quy trình mà Công ty ban hành. M ấn nút tắt báo lỗi của bảng điều khiển máy đúc nhôm và di chuyển khoảng 2m đến bảng điều khiển cánh tay robot để điều khiển cánh tay robot đang ở giữa 02 khuôn đúc về vị trí ban đầu, thực hiện hạ khuôn đúc luôn theo lệnh sản xuất (cánh tay robot đặt ở trên khuôn đúc có nhiệm vụ xịt dầu chống dính vào khuôn đúc; đây là bộ phận tách rời, điều khiển riêng biệt, không liên quan tới quá trình vận hành của máy đúc nhôm). Thời điểm này, M không biết anh P1 đã đi lên vị trí khuôn đúc bằng cầu thang phía sau. Khi M vừa di chuyển cánh tay rô bốt ra khỏi vị trí khuôn đúc thì máy đúc nhôm tiếp tục hoạt động. Ngay sau đó, M nghe thấy tiếng anh P1 hô: “khuôn đang ép vào kìa”. M chạy đến bảng điều khiển máy đúc ấn nút dừng máy khẩn cấp rồi quay ra thì thấy anh P1 đã bị khuôn đúc 02 bên ép vào người. M chạy đến vị trí máy đúc A02 nơi anh Vi Văn D1, sinh năm 1993 là Phó phòng Quản lý sản xuất bộ phận đúc nhôm đang sửa chữa báo cho anh D1 biết sự việc và gọi mọi người ở gần đó đưa anh P1 ra khỏi vị trí khuôn đúc và đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ - Bắc Giang nhưng khi đến bệnh viện thì anh P1 đã chết.
* Khám nghiệm hiện trường: Nơi xảy ra sự việc tại Công ty TNHH S2, lô B3, khu Công nghiệp S - N thuộc thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Lô 3 Công ty TNHH S2 được thiết kế gồm 03 xưởng sản xuất.
Tại xưởng sản xuất 2 được thiết kế gồm 02 dãy máy đúc chạy dọc theo chiều Đ - T; tại máy đúc thứ 2 (từ Đ - T) thuộc dãy máy thứ 2 (từ T - Đ) ký hiệu “HPDC 2200T khác A-04” hay còn được gọi là máy đúc nhôm. Máy đúc nhôm này gồm 02 robot thực hiện nhiệm vụ đúc các sản phẩm, linh kiện nhôm gồm hai mặt khuôn được cố định ở tư thế đứng trên hai bộ đế gắn khuôn có cùng kích thước (1,5 x 1,1) m. Khuôn này cách mặt sàn là 0,75m.
Bộ đế gắn khuôn tại mặt phía T gồm 4 chốt khuôn dài 26 cm; chu vi 31 cm. Tại chốt trên cùng phía Đông Bắc của mặt khuôn phía T bám dính rải rác chất màu nâu đỏ nghi máu trên diện (1,1 x 0,8) m.
Bộ đế gắn khuôn tại mặt phía Đông Nam gồm 4 lỗ âm tương ứng với 04 lỗ chốt khuôn tại mặt T. Tại lỗ âm phía trên tương ứng với lỗ chốt khuôn có bám dính rải rác chất màu nâu đỏ tại mặt khuôn T có bám dính chất màu nâu đỏ găm kẹp tổ chức mô da và mảnh vải sẫm màu ở phía trong.
Tại mặt Đông Bắc máy đúc nhôm, vị trí cách mặt sàn 1,45 m có hệ thống nút dừng khẩn cấp trong trạng thái đèn B đang dừng hai mặt khuôn cách nhau 1,14 m. Tại mặt phía Tây Nam máy đúc nhôm gắn bảng điều khiển toàn bộ hệ thống máy và tủ điện robot (tủ điều khiển).
Tại phía T máy đúc nhôm bố trí từ 02 lò đun hóa lỏng nhôm trong trạng thái phía trong chứa dung dịch nóng chảy màu đỏ. Kiểm tra lỗ âm tại mặt khuôn phía Đông Nam có đường kính 10cm; sâu 27,5cm.
Máy đúc nhôm có tủ điện được bố trí tại góc phía Đông của máy. Tiến hành để anh Tống Xuân T1, sinh năm 1985, trú tại thôn D, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh dùng đồng hồ đo điện đo điện áp tại attomat cấp điện cho máy bơm dầu thủy lực thấy có điện áp đều là 220V.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu chất màu đỏ nghi máu tại bộ đế gắn khuôn đúc.
* Kết quả khám nghiệm tử thi Ma Xuân P1:
Khám ngoài:
- Áo rách thủng hình gân tròn ở vùng ngực trái. Quần rách thủng vải nham nhở ở mặt trước cẳng chân phải. Quần áo bám dính máu, bụi đất.
- Vùng đầu: tóc đen cắt trung bình, hai mắt khép, đồng tử hai bên giãn ra. Tai trái có máu không đông chảy ra.
- Vùng cổ, ngực hai bên có vết hằn tím da nằm ngang kéo dài đến trước đầu cánh tay hai bên kích thước (67x0,5)cm. Toàn bộ vùng ngực có vết hằn tím da theo nhiều chiều hướng khác nhau, kích thước (50x35)cm.
- Vùng ngực trái có vết thương, tổn thương hình tròn, thấu trong xuyên qua mặt sau cơ thể, để lộ tổ chức dưới da, khuyết các xương cung trước xương sườn bên trái và cung sau; để lộ nội tại thoát ra bên ngoài; bờ mép tổn thương tạo thành hai bờ, bờ trong lún xuống khuyết mất thượng bì, bờ ngoài gọn, kích thước (14x12,5)cm.
- Mặt trước ngoài cánh tay, cẳng tay trái có diện xây sát da bầm tím kích thước (57x12)cm;
- Mặt trước trong đùi phải có diện xây sát da kích thước (25x15)cm;
- Mặt trước trong cẳng chân phải có diện tích tổn thương rập rách da để lộ tổ chức dưới da cơ căng chân phải kích thước (25x20)cm;
- Mặt trước trong bẹn trái có diện tổn thương rách da để lộ tổ chức dưới da có xương, thoát một phần ruột gan ra bên ngoài kích thước (22x5)cm;
- Vùng lưng trái có diện tổn thương hình tròn thấu với mặt trước cơ thể để lộ tổ chức dưới da và nội tạng kích thước (25x15)cm;
- Sờ nắn thấy gân phức tạp các xương đốt sống cổ, xương lồng ngực hai bên, xương chậu và xương đùi phải;
Mổ tử thi: Kiểm tra tổn thương vùng ngực trái thấy mất khuyết cơ, các xương sườn cung trước, cung sau và một phần nhu mô phôi, để lộ tim và tổ chức phôi. Qua tổn thương có nhiều máu đọng vào bên trong.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trưng cầu giám định xác định nguyên nhân chết của anh Ma Xuân P1.
Kết luận giám định tử thi số 920/KLGĐTT-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Nguyên nhân chết của Ma Xuân P1 do đa chấn thương: Chấn thương ngực hở; gãy cột sống cổ, gãy xương chậu và xương đùi phải.
- Cơ chế hình thành dấu vết:
- Các tổn thương hằn tím, bầm tím, xây sát da do tiếp xúc với vật tày có cạnh, bề mặt không nhẵn tác động tạo nên.
- Tổn thương hình tròn ở vùng ngực trái làm mất, khuyết tổ chức dưới da, cơ, xương sườn do tiếp xúc với vật tày, hình trụ tròn, lực tác động mạnh tạo nên.
- Các tổn thương gãy đốt sống cổ, xương chậu, xương đùi do tiếp xúc với vật tày, có sự xoắn vặn, chèn đè tạo nên tạo nên.
+ Thời gian chết của Ma Xuân P1 đến thời điểm khám nghiệm tử thi trên 02 tiếng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định nhóm máu thu giữ tại hiện trường và nhóm máu, chất ma tuý của tử thi Ma Xuân P1.
Kết luận giám định số 935/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu máu của Ma Xuân P1 được niêm phong, gửi giám định thuộc nhóm máu O;
- Mẫu được niêm phong trong phong bì ghi “Dấu vết màu nâu đỏ thu tại vị trí số 2” gửi giám định có máu người, nhóm máu O.
Kết luận giám định số 2571/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của V - Bộ C3 kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Ma Xuân P1 gửi giám định.
Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Ma Xuân P1 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B xác định: Không phát hiện nồng độ cồn trong máu.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định fie video trong đầu thu camera tại bộ phận đúc nhôm (xưởng nhôm B3) Công ty TNHH S2.
Kết luận giám định số 1025/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Không tìm thấy dữ liệu video hình ảnh của kênh 41 (ký hiệu kênh được hiển thị trên khung hình file video) có trong đầu ghi hình camera gửi giám định, thời gian từ 06 giờ đến 12 giờ ngày 03/4/2024.
Về nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn lao động: Tại Biên bản điều tra tai nạn lao động số 12/BB-ĐTTNLĐ ngày 08/5/2024 của Sở Lao động thương binh và Xã hội tỉnh B kết luận:
Người lao động (ông Ma Xuân P1) đã vi phạm nguyên tắc an toàn khu vực xưởng đúc nhôm (đã được Công ty X và ban hành theo Quyết định số 01/QĐBH-NQ ngày 01/01/2023) không có nhiệm vụ làm việc tại vị trí khuôn đúc, không được giao nhiệm vụ điều khiển và xử lý sự cố máy nhưng khi máy đúc nhôm có sự cố đã đứng vào vùng nguy hiểm giữa khoảng trống của khuôn đúc, khi máy tiếp tục chạy hành trình đã ép vào người gây tử vong.
- Lý Công M chủ quan trong quá trình xử lý sự cố máy đúc nhôm; khi phát hiện máy báo lỗi, đã ấn nút tắt báo lỗi tại bảng điều khiển của máy mà không thực hiện ấn nút dừng máy và báo cho quản lý theo quy trình xử lý sự cố theo quy định tại Quyết định số 03/QĐBH ngày 02/12/2023 của Công ty TNHH S2 về việc ban hành quy trình làm việc an toàn.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH S2 đã hỗ trợ cho gia đình anh Ma Xuân P1 400 triệu đồng. Lý Công M đã bồi thường cho gia đình anh Ma Xuân P1 15 triệu đồng. Chị Vàng Thị D, sinh năm 2001 (vợ anh P1) là người đại diện hợp pháp của người bị hại theo uỷ quyền không yêu cầu Công ty TNHH S2 và Lý Công M phải bồi thường thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo M.
Đối với chiếc đầu thu dữ liệu camera. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Trần Văn N là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH S2
Tại Bản cáo trạng số 194/CT-VKS ngày 10 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lý Công M về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Công M từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”. Thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Công ty TNHH S2 giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, nhận thức được hành vi của bản thân là sai, xin được hưởng án treo để có cơ hội cái sửa bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Lý Công M và anh Ma Xuân P1 đều làm công nhân làm việc tại bộ phận đúc nhôm (lô B3) của Công ty TNHH S2 thuộc khu công nghiệp S – Nội Hoàng. Ngày 03/4/2024, M và anh P1 làm việc tại máy đúc nhôm kí hiệu 2200T# A04 của Công ty TNHH S2. Trong quá trình lao động, M phát hiện bảng điều khiển của máy đúc nhôm có báo lỗi nhưng chủ quan nên không báo cho quản lý theo quy định mà tự ấn nút tắt báo lỗi của bảng điều khiển máy đúc nhôm và di chuyển cánh tay robot ra khỏi vị trí khuôn đúc thì máy đúc nhôm tiếp tục hoạt động dẫn đến việc anh P1 bị khuôn đúc 02 bên ép vào người. Hậu quả làm anh P1 bị chết. Hành vi của Lý Công M vi phạm khoản 1 Điều 17 Luật An toàn, vệ sinh lao động và quy định tại Quyết định số 03/QĐBH ngày 02/12/2023 của Công ty TNHH S2 về việc ban hành quy trình làm việc an toàn. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo điểm a khoản 1 Điều 295Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định của Nhà nước về an toàn lao động, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có nhân thân và không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau tai nạn, bị cáo có bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong vụ án, bị hại cũng có một phần lỗi và người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho Công ty TNHH S2 (nơi làm việc của bị cáo) giám sát, giáo dục cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Lý Công M 02(hai) năm tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”. Thời gian thử thách là 04(bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Công ty TNHH S2 giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 46/2024/TB-TA |
Bắc Giang, ngày 28 tháng 10 năm 2024 |
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các Điều 45, Điều 260 và Điều 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 198/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang do có lỗi chính tả, nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
- Về nội dung tại dòng 25 từ trên xuống dưới của trang 01 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Nơi tạm trú: Thôn Ả, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.”.
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Nơi tạm trú: Thôn Ả, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nơi làm việc: Công ty TNHH S2; Địa chỉ trụ sở: Lô B, B2, B3, B6, B7 Khu Công nghiệp S (phía Bắc), xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang”.
- Về nội dung tại dòng 12 từ trên xuống dưới của trang 8 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Giao bị cáo cho Công ty TNHH S2 giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.”.
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Giao bị cáo cho Công ty TNHH S2; Địa chỉ trụ sở: Lô B, B2, B3, B6, B7 Khu Công nghiệp S (phía Bắc), xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách”.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 198/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về an toàn lao động
- Số bản án: 198/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Công M - Vi phạm quy định về an toàn lao động
