|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 198/2024/HS-ST Ngày: 18/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Diệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Sơn Tây;
- Ông Tống Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 200/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 67/2024/QĐST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Anh T, sinh năm 2002, tại Bình Dương; thường trú: khu phố V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Thanh T1, bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến nay; có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 2006; địa chỉ: khu phố V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hoàng Sáng T2, Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh L; địa chỉ: số G Quốc lộ B khu phố A, phường L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
Người làm chứng: Bà Đặng Thị Kiều O, sinh năm 1978, có mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Anh T và Nguyễn Thị Thanh N có mối quan hệ tình cảm với nhau với nhau.
Trong thời gian quen nhau, T đã sử điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max để chụp hình N toàn thân không mặc quần áo rồi lưu vào điện thoại của T. Đến khoảng tháng 02/2024, N và T xảy ra mâu thuẫn trong chuyện tình cảm nên cả hai chia tay nhau. Sau đó, T nhiều lần liên hệ yêu cầu N trả lại cho T số tiền 8.000.000 đồng mà trong thời gian quen nhau T đã đưa cho N nhưng N không đồng ý trả. Lúc này, T nhiều lần đe dọa nếu N không trả tiền T sẽ đăng những hình ảnh nhạy cảm của N lên mạng xã hội Facebook.
Đến ngày 09/4/2024, T tiếp tục liên lạc với N để đe dọa sẽ đăng hình ảnh nhạy cảm của N lên mạng xã hội Facebook nếu N không trả tiền. Do lo sợ T sẽ đăng những hình ảnh nhạy cảm của N lên mạng xã hội Facebook sẽ ảnh hưởng đến uy tín và danh dự nên N đã đi cầm cố xe mô tô và trang sức vàng của N được số tiền 38.000.000 đồng. Sau đó, N liên hệ hẹn gặp T để đưa tiền và yêu cầu T xóa những hình ảnh nhạy cảm của N trong điện thoại của T thì T đồng ý.
Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, tại quán cà phê “G” thuộc khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, khi N đang đưa số tiền 38.000.000 đồng cho T thì bị bà Đặng Thị Kiều O là mẹ ruột của N bắt giữ T giao cho Công an phường T xử lý.
Sau đó, Công an phường T tiến hành lập biên bản tiếp nhận người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Anh T và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs của Nguyễn Thị Thanh N;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max của Nguyễn Anh T;
- Số tiền 38.000.000 đồng.
Cáo trạng số 214/CT-VKSTU ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 (Bốn) năm đến 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Thanh N đã nhận lại số tiền 38.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs. Tại phiên tòa, bị
3
hại Nguyễn Thị Thanh N yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 5.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS max số Imei: 35310310368475 của bị cáo.
Bị hại Nguyễn Thị Thanh N trình bày:
quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại số tiền 38.000.000 đồng. Tuy nhiên, khi bị cáo yêu cầu bị hại đưa tiền cho bị cáo, bị hại cầm xe mô tô và trang sức của bị cáo cho tiệm cầm đồ để lấy số tiền 38.000.000 đồng. Sau khi nhận lại số tiền 38.000.000 đồng, bị hại đã chuộc xe và trang sức nhưng phải thanh toán tiền lãi 5.000.000 đồng nên bị hại yêu cầu bị cáo trả cho bị hại số tiền này; về trách nhiệm hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đồng ý bồi thường cho bị hại 5.000.000 đồng.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến bày lời bào chữa:
Thống nhất với tội danh và mức hình phạt Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để quyết định hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát.
Người làm chứng bà Đặng Thị Kiều O trình bày:
Bà O là mẹ của bị hại N. Khi sự việc xảy ra, bị hại N có báo cho bà O biết. Bị cáo có hành vi uy hiếp tinh thần của bị hại để chiếm đoạt số tiền 38.000.000 đồng. Bị hại N đã nhận lại số tiền 38.000.000 đồng.
Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và những tài liệu, chứng cứ
4
khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 09/4/2024, tại khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Anh T có hành vi dùng thủ đoạn đe dọa sẽ đăng những hình ảnh nhạy cảm của Nguyễn Thị Thanh N lên mạng xã hội Facebook uy hiếp tinh thần của bị hại Nguyễn Thị Thanh N để chiếm đoạt số tiền 38.000.000 đồng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người thành niên, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.
[4] Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo sau khi phạm tội có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; hành vi của bị cáo chưa gây thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ Luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 cho bị cáo được hưởng án treo.
[9] Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Thanh N yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 5.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại 5.000.000 đồng.
[11] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS max số Imei: 35310310368475 là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
5
[11] Về án phí: bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự, điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018;
Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/9/2024). Áp dụng khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả tự do tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Anh T nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội khác.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Anh T có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thanh N 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS max số Imei: 35310310368475.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/9/2024)
- Về án phí: căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 250.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6
Bị cáo, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hương Diệp |
Bản án số 198/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 198/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh T phạm tội Cưỡng đoạt tài sản
