Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 198/2024/HS-ST

Ngày: 10-09-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê TườngLinh .

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Châu Thị Lệ
  • 2/ Bà Võ Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 09 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 148/2024/TLST-HS ngày 20/06/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2024/QĐXXST-HS ngày 20/08/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T; Giới tính: N, sinh năm: 2000 tại tỉnh Quảng Nam; Hộ khẩu thường trú: 288/42/18 H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Đức Q và bà Huỳnh Thị Tú T1; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2023 (Có mặt).

Bị hại: Bà Ngô Quỳnh C, sinh năm: 1993, Địa chỉ: I Đường số G, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức Q, sinh năm 1965; Địa chỉ: Tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức T:

1/ Ông Nguyễn Hải V, sinh năm 1973 và ông Lê Đức N1, sinh năm 1981 là luật sư thuộc công ty L -Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 12/2023, Nguyễn Đức T, sinh năm 2000 thường trú tại số B đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương đi thực tập tại công ty W tại tỉnh Bình Dương. Tại đây Nguyễn Đức T gặp và làm quen với chị Ngô Quỳnh C, sinh năm1993 thường trú tại Thôn T, xã C, thị xã C, Tỉnh Khánh Hòa. Nơi ở hiện tại số I đường số G, Phường C, quận G cũng làm tại công ty, nên gặp và chủ động làm quen sau đó cả hai nảy sinh tình cảm. Khoảng tháng 2/2023, chị Ngô Quỳnh C nói chia tay với Nguyễn Đức T do không hợp nhưng Nguyễn Đức T không đồng ý.

Từ ngày 01/4/2023 đến ngày 02/4/2023, Nguyễn Đức T đã nhiều lần nhắn tin cho chị Ngô Quỳnh C qua ứng dụng Messenger với nội dung cho rằng chị Ngô Quỳnh C đang quen người khác nên mới đòi chia tay với Nguyễn Đức T và sẽ giết những người mà chị Ngô Quỳnh C quen nếu chị Ngô Quỳnh C chia tay, Nguyễn Đức T hăm dọa sẽ đến quậy phá đám cưới của bạn chị Ngô Quỳnh C, quậy phá tiệm buôn bán hoa của bạn chị Ngô Quỳnh C để chị Ngô Quỳnh C sợ không dám chia tay với Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức T dùng những câu từ thể hiện sự tức giận đối với chị Ngô Quỳnh C để làm chị Ngô Quỳnh C sợ và không dám quen với người khác.

Ngày 02/4/2023, khi chị Ngô Quỳnh C đi đám cưới của bạn thì Nguyễn Đức T tiếp tục nhắn tin và điện thoại chửi chị Ngô Quỳnh C. Khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày khi chị Ngô Quỳnh C đi về đến phòng trọ thì Nguyễn Đức T thấy chị Ngô Quỳnh C có mùi rượu nên nổi nóng và chửi chị Ngô Quỳnh C rồi xô đẩy chị Ngô Quỳnh C vào phòng. Nguyễn Đức T bắt chị Ngô Quỳnh C đưa điện thoại để kiểm tra xem chị Ngô Quỳnh C có liên hệ với người đàn ông nào không thì chị Ngô Quỳnh C không đồng ý. Khi đó, Nguyễn Đức T đi lại kệ bếp lấy một con dao cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng. Nguyễn Đức T cầm dao bằng tay phải đi lại gần chị Ngô Quỳnh C chĩa dao hướng về phía cổ của chị Ngô Quỳnh C yêu cầu đưa pass điện thoại thì chị Ngô Quỳnh C sợ nên đưa điện thoại và đọc mật khẩu cho Nguyễn Đức T mở điện thoại xem. Sau khi mở mật khẩu điện thoại thì Nguyễn Đức T đi cất dao rồi kiểm tra tin nhắn trong điện thoại của chị Ngô Quỳnh C. Quá trình kiểm tra Nguyễn Đức T phát hiện thấy chị Ngô Quỳnh C nhắn tin với nhiều người đàn ông khác nên nổi giận và đã dùng tay phải tát vào mặt chị Ngô Quỳnh C 2 đến 3 cái rồi yêu cầu chị Ngô Quỳnh C lên gác nói chuyện. Tại đây Nguyễn Đức T tiếp tục xem tin nhắn thì chị Ngô Quỳnh C không cho nên Nguyễn Đức T dùng tay phải đấm vào vùng vai trái của chị Ngô Quỳnh C. Trong lúc xem tin nhắn thấy chị Ngô Quỳnh C

nhắn tin với người yêu cũ khi đang quen Nguyễn Đức T nên Nguyễn Đức T nổi nóng và đi xuống kệ bếp lấy một cây kéo kim loại, cán nhựa màu đỏ cầm lên và nói chị Ngô Quỳnh C đâm Nguyễn Đức T rồi tự đâm mình đi. Lúc này, chị Ngô Quỳnh C xin lỗi Nguyễn Đức T và cầm cây kéo để xuống dưới nệm.

Trong quá trình kiểm tra tin nhắn trên điện thoại của chị Ngô Quỳnh C thì Nguyễn Đức T dùng tay phải đánh vào vùng mặt, đầu của chị Ngô Quỳnh C nhiều cái (không nhớ cụ thể đánh mấy cái). Khoảng 3 giờ ngày 03/4/2023, chị Ngô Quỳnh C xin Nguyễn Đức T đi tắm thì Nguyễn Đức T đồng ý, chị Ngô Quỳnh C đi xuống nhà tắm xong lên gác ngồi nói chuyện với Nguyễn Đức T thì Nguyễn Đức T ôm chị Ngô Quỳnh C đè người chị Ngô Quỳnh C xuống cởi đồ chị Ngô Quỳnh C ra quan hệ tình dục với chị Ngô Quỳnh C thì chị Ngô Quỳnh C không phản ứng gì. Quan hệ với chị Ngô Quỳnh C được khoảng 10 phút thì Nguyễn Đức T ngừng lại tiếp tục chửi, xúc phạm danh dự của chị Ngô Quỳnh C và gia đình chị Ngô Quỳnh C. Sau khi chửi xong thì Nguyễn Đức T và chị Ngô Quỳnh C tiếp tục quan hệ tình dục với nhau cho đến khi Nguyễn Đức T xuất tinh vào âm hộ của chị Ngô Quỳnh C, trong lúc quan hệ tình dục thì Nguyễn Đức T dùng điện thoại di động quay lại cảnh cả hai quan hệ tình dục. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Đức T tỉnh dậy rồi tiếp tục quan hệ tình dục với chị Ngô Quỳnh C. Khi đang quan hệ tình dục thì em gái ruột của chị Ngô Quỳnh C lên phòng nên cả hai không quan hệ tình dục với nhau nữa và Nguyễn Đức T mặc quần áo đi về. Sau đó chị Ngô Quỳnh C đã kể cho em gái nghe và đã đến Công an phường C1, quận G trình báo vụ việc bị Nguyễn Đức T cưỡng dâm.

Ngày 04/04/2023, chị Ngô Quỳnh C viết đơn tố cáo và yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Đức T về hành vi cưỡng dâm đối với mình(BL: 145).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận G Nguyễn Đức T thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, và thừa nhận quan hệ tình dục với chị Ngô Quỳnh C hai lần vào rạng sáng ngày 03/04/2023 (BL: 90 – 111).

Tại bản kết luận giám định xâm hại tình dục số: 47/KLXHTD-TTPY.2023 ngày 15/5/2023 của Trung tâm P – Sở y tế Thành phố H kết luận đối với chị Ngô Quỳnh C như sau: “Màng trinh: dãn rộng, rách cũ tại vị trí 9 giờ; Có tinh trùng trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn; Hiện diện ADN người nam trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn, đủ sơ sở so sánh ADN của đối tượng”.

Tại bản kết luận giám định số: 4281/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận đối với chiếc điện thoại hiệu Iphone 11 Pro của Nguyễn Đức T dùng để quay video cảnh quan hệ tình dục. Kết quả: Không tìm thấy tập tin video trong khoảng thời gian từ 23giờ ngày 02/04/2023 đến 10giờ ngày 03/04/2023 trong điện thoại cần giám định ký hiệu A ( đã nêu tại mục II.1).

Tại bản kết luận giám định AND số: 1.081A - 2023/KLGÐADN-TTPY ngày 23/8/2023 của Trung tâm Pháp y – Sở y tế Thành phố H kết luận: ADN của

Nguyễn Đức T có hiện diện trong mẫu phết dịch âm đạo, phết dịch âm hộ và phết vùng hậu môn của chị Ngô Quỳnh C”.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, dung lượng 64 GB (Tài sản của Nguyễn Đức T). Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận G đã trả lại cho Nguyễn Đức T.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 6300 màu vàng (Tài sản của Nguyễn Đức T) Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận G đã trả lại cho Nguyễn Đức T.
  • - 01 (một) cây kéo cán màu đỏ bằng nhựa, lưỡi kéo bằng kim loại thép, dài 11 cm;
  • - 01 (một) con dao cán bằng gỗ dài 11,5 cm, lưỡi bằng thép dài 17 cm, bản rộng 4,5cm.

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận G đã nhập kho vật chứng số 235/PNK ngày 29/11/2023.

Tại bản cáo trạng số 164/Ctr-VKS-GV, ngày 19/06/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “ Cưỡng Dâm” theo khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đối với vụ án đã đề nghị:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo cán màu đỏ bằng nhựa, lưỡi kéo bằng kim loại thép, dài 11 cm và con dao cán bằng gỗ dài 11,5 cm, lưỡi bằng thép dài 17 cm, bản rộng 4,5cm.

Tại phiên tòa hôm nay khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về hòa nhập cùng cộng đồng xã hội để có cơ hội làm lại cuộc đời.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức T trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo T, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo các tình tiết sau: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mới phạm tội lần đầu, đã bồi thường tổn thất tinh thần sức khỏe cho bị hại, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị hại Ngô Quỳnh C cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo T được hưởng mức án nhẹ nhất của khung hình phạt để hòa nhập xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp ., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Nguyễn Đức T đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Đức T đã phạm vào tội “Cưỡng Dâm” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo dùng thủ đoạn uy hiếp tin thần bị hại, để bị hại là chị C miễn cưỡng giao cấu với bị cáo, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến nhân phẩm của bị hại. Ngoài ra, còn tác động xấu đến lối sống đạo đức và truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam. Chỉ vì muốn thỏa mãn những dục vọng của cá nhân mình, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội hết sức táo bạo, liều lĩnh, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xem thường đến sức khoẻ, đến nhân phẩm của bị hại. Trong vụ án này bị cáo và bị hại có quan hệ tình cảm với nhau từ tháng 11 năm 2022 và nhiều lần quan hệ tình dục tự nguyện với nhau, do bị hại là chị Quỳnh C đòi chia tay bị cáo, nên bị cáo ghen tuông, ngày 03/04/2023 bị cáo đến nhà bị hại chửi mắng, uy hiếp tinh thần bị hại để bị hại Quỳnh Chi miễn cưỡng quan hệ tình dục đối với bị cáo, sau khi quan hệ tình dục xong lúc 3h sáng thì bị cáo và bị hại đi ngủ, đến 06 giờ sáng thì bị hại và bị cáo tiếp tục thức dậy quan hệ tình dục, lần quan hệ tình dục này bị hại và bị cáo tự nguyện quan hệ với nhau, bị cáo không có đánh đập chửi mắng bị hại và nếu bị hại không đồng ý giao cấu thì có đủ thời gian chạy ra ngoài kêu cứu khi bị cáo T đang ngủ, nên Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp không áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần đối với bị cáo T là có cơ sở. Do đó, Viện kiểm

sát quận G truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 143 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Hành vi cưỡng dâm của bị cáo gây ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của bị hại, gây mất an ninh trật tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm. do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, đã bồi thường tổn thất tinh thần sức khỏe cho bị hại, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị hại Ngô Quỳnh C có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Tại phiên tòa hôm nay bị hại Ngô Quỳnh C có đơn xin vắng mặt, qua hồ sơ thể hiện ông Nguyễn Đức Q là cha bị cáo Nguyễn Đức T đã bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho bị hại Ngô Quỳnh C số tiền 100.000.000 đồng và bị hại không có yêu cầu gì thêm và bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.
  • - Đối với số tiền 30.000.000 đồng ông Nguyễn Đức Q nộp tại chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp để khắc phục hậu quả cho bị cáo Nguyễn Đức T, chị Ngô Anh T2 là em ruột chị Ngô Quỳnh C được quyền thay mặt chị C liên hệ với Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp nhận lại số tiền trên.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 cây kéo cán màu đỏ bằng nhựa, lưỡi kéo bằng kim loại thép, dài 11 cm và con dao cán bằng gỗ dài 11,5 cm, lưỡi bằng thép dài 17 cm, bản rộng 4,5cm là vật chứng vụ án không còn giá trị xử dụng, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét lời trình bày của luật sư bào chữa cho bị cáo T là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T đã phạm vào tội “ Cưỡng Dâm”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 143; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01(một) năm tù.

Thời hạn tù tính kể từ ngày 09/11/2023.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017; khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo cán màu đỏ bằng nhựa, lưỡi kéo bằng kim loại thép, dài 11 cm và con dao cán bằng gỗ dài 11,5 cm, lưỡi bằng thép dài 17 cm, bản rộng 4,5cm

Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 235/PNK ngày 29/11/2023 của cơ quan cảnh sát điều tra công an quận G.

Bà Ngô Anh T2 được nhận số tiền 30.000.000 đồng khắc phục hậu quả tại Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp theo biên lai thu tiền số 0013752 ngày 23/05/2024.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại, vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp;
  • - Thi hành án Q. Gò Vấp;
  • - Công an Q. Gò Vấp;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Đại diện hợp pháp cho người bị hại;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Tường Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 198/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cưỡng dâm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 198/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng Dâm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T đã phạm vào tội “ Cưỡng Dâm”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger