|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 198/2024/HS-ST Ngày 19-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Ông Vũ Khắc Tân
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường- Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 180/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 772/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Đức T, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1993 tại Hưng Yên. Nơi cư trú: Khu phố N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức  và bà Nguyễn Thị T1 (đều đã chết); chưa có vợ con; tiền án: 04 tiền án: Bản án số 09 ngày 02/3/2024 Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 06 ngày 25/3/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 21 ngày 27/4/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 30 ngày 30/8/2019, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử 01 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp 04 năm 06 tháng tù (đều chưa được xóa án tích); tiền sự, nhân thân: Ngày 22/10/2014 Công an phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (đã được xóa); bị tạm giữ ngày 11/6/2024; tạm giam ngày 16/6/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 11/6/2024, T đi xe ôm đi từ huyện A đến khu vực chắn tàu T, quận L, Hải Phòng để tìm mua ma túy H về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp 01 người nam giới (hiện không rõ lai lịch) hỏi T “mua ma tuý à”, T trả lời “đúng rồi”. Nam giới bảo T ngồi lên xe mô tô để người này chở đi mua ma tuý. Trên đường đi, người nam giới gọi điện thoại cho ai đó T không rõ. Khi người nam giới chở T vào trong ngõ G N khoảng 30m thì dừng lại đứng đợi. Khoảng 05 phút sau có 01 người nam giới khác đi bộ từ trong ngõ ra. T đến gặp và hỏi mua của người này 400.000 đồng ma túy Heroine. T đưa cho người nam giới này 400.000 đồng rồi nhận lại 01 túi nilon mép viền cam, bên trong có 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. T cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ ra đến đầu ngõ G N thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục, nghi là ma túy Heroine. Người nam giới chở T đi mua ma túy đã điều khiển xe bỏ chạy.
Tại Kết luận giám định số 720 ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,18 gam, loại: Heroine.
Tại bản cáo trạng số 198/CT-VKS ngày 21/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Phạm Đức T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đối với người nam giới đã chở T đi mua ma túy và người nam giới đã bán ma túy cho T ngày 11/6/2024, bị cáo khai không biết lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở điều tra, làm rõ.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Đức T từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý:
[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 09 giờ, ngày 11/6/2024, Phạm Đức T có hành vi cất giữ trái phép 0,18 gam Heroin, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang tại khu vực đầu ngõ G N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo có 4 tiền án chưa được xoá: Bản án số 09 ngày 02/3/2015 Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, Bản án số 06 ngày 25/3/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, Bản án số 21 ngày 27/4/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, Bản án số 30 ngày 30/8/2019, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử 01 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp 04 năm 06 tháng tù. Do vậy, hành vi của bị cáo vi phạm điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là “tái phạm nguy hiểm” như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
[7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy tội phạm bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, do vậy cần có hình phạt nghiêm, xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, các điểm a,c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 01 phong bì niêm phong số 720MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Phạm Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Phạm Đức T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 6 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số ma tuý và vỏ bao bì còn lại sau giám định số 720MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |
Bản án số 198/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 198/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Đức T Tàng trữ trái phép chất ma túy
