|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 198/2024/HSST Ngày: 24/10/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung
Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Huệ;
Ông Nguyễn Quốc Nông;
Ông Phạm Văn Huấn.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Thị Thanh Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 188/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2024/QĐXXST – HS ngày 10/10/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn An Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Căn cước công dân: [...]; Sinh ngày: 05/11/1976 tại: Huyện N, tỉnh Thanh Hóa; ĐKNKTT: Thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nguyễn An T (đã chết); Con bà: Cao Thị H; Vợ: Phạm Thị H1 (đã ly hôn); Con: có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 30/12/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị L – Luật sư Văn phòng L1, đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hoá. Có mặt.
* Người bị hại: Anh Khương Văn H2, sinh 1985. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn G, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
* Người làm chứng: Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1980. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 30/12/2023, sau khi ăn sáng xong thì Nguyễn An Đ, sinh năm 1976 về nhà mình ở thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa lấy 01 con dao (loại dao năm dài 52cm, phần cán bằng gỗ dài 15cm, phần lưỡi dao kim loại dài 37cm có một cạnh sắc, vị trí rộng nhất của lưỡi dao là 6,5cm) mục đích để đi lấy củi. Do không thấy con gái mình ở nhà nên Đ đi sang nhà chị Phạm Thị H1, sinh năm 1980 ở cùng thôn để tìm con gái ( H1 là vợ của Đ nhưng đã ly hôn). Khi đến nơi, chị H1 có lời lẽ trách móc về việc Đ không cho con gái sang nhà chơi với mẹ. Đang định dẫn con gái về thì Đ thấy anh Khương Văn H2, sinh năm 1985, trú tại thôn G, xã L, huyện N (là chồng chị H1) đang lùi xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI AVANTE màu đen, BKS 36A-513.74 từ trong nhà chị H1 ra, Đ chỉ tay vào xe của H2, H2 hạ cửa kính xe bên lái xuống, nói một vài câu thì Đ cầm dao xông lại phía H2, thấy vậy H2 kéo cửa kính lên thì Đ vung dao chém vỡ kính bên lái rồi tiếp tục nhoài người qua cửa kính xe cầm dao chém liên tiếp vào người anh H2 nhiều nhát, làm anh H2 bị thương tích ở vùng đầu, mặt, chân, tay, ngực, xe ô tô bị hư hỏng nhiều bộ phận. Được mọi người can ngăn thì Đ dừng lại, H2 được đưa đến Bệnh viện Đ1 để cấp cứu, Đ đến Công an xã L đầu thú, giao nộp tang vật gây án, khai báo toàn bộ nội dung sự việc.
Hậu quả: Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập ngày 30/12/2023 tại Bệnh viện Đa khoa huyện Đ1, Khương Văn H2 bị các vết thương:
- + Vùng thái dương phải có 01 vết thương kích thước 2cm x 15cm, bờ mép sắc gọn, sâu sát xương, chảy máu.
- + Vùng má trái có 01 vết thương kích thước 2cm x 8cm, bờ sắc gọn, sâu sát xương, thấu khoang miệng, chảy máu.
- + Vùng giữa ngực, đoạn 1/3 giữa có 01 vết thương kích thước 1cm x 3cm, bờ sắc gọn, sâu sát xương, chảy máu.
- + Vùng thượng vị có vết thương trợt da, kích thước 0,5cm x 2cm.
- + Vùng mặt ngoài cánh tay phải có 01 vết thương kích thước 0,5cm x 3cm, bờ sắc gọn, chảy máu.
- + Vùng 1/3 dưới cẳng tay phải có 01 vết thương kích thước 2cm x 6cm, bờ sắc gọn, đứt gân cơ mạch máu, sâu sát xương, chảy máu.
- + Vùng đốt ngón tay II, III, IV bàn tay phải có vết thương kích thước 0,5cm x 0,5cm, bờ sắc gọn, chảy máu.
- + Vùng mặt trong cẳng tay trái có 01 vết thương kích thước 2cm x 5cm, bờ sắc gọn, chảy máu.
- + Vùng lòng bàn tay trái có vết thương kích thước 1cm x 10cm, bờ sắc gọn, sâu sát xương, đứt gân cơ mạch máu, chảy máu.
- + Vùng mặt ngoài đùi trái có 02 vết thương cách nhau 02cm: 01 vết có kích thước 3cm x 15cm, sâu sát xương, bờ sắc gọn, chảy máu; 01 vết có kích thước 2cm x 8cm, bờ sắc gọn, chảy máu.
- + Vùng gối trái có 03 vết thương cách nhau 02cm: 01 vết kích thước 2cm x 10cm, bờ sắc gọn, thấu khớp gối, chảy máu; 01 vết có kích thước 1cm x 8cm, bờ sắc gọn, thấu khớp gối, chảy máu; 01 vết có kích thước 0,2cm x 4cm, bờ sắc gọn, chảy máu.
- + Vùng mặt trong cẳng chân trái có vết thương kích thước 1cm x 3cm, bờ sắc gọn, chảy máu.
Bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa huyện Đ1 đối với Khương Văn H2 thể hiện: Đa vết thương vùng cơ thể. Kết quả chụp cắt lớp vi tính sọ não ngày 30/12/2023: Vỡ xương thái dương phải. Kết quả chụp Xquang ngày 30/12/2023: Vỡ xương ngón IV đốt 3 bàn tay trái; Vỡ 1/3 dưới xương trụ cẳng tay trái; Vỡ xương bánh chè trái; Gãy 1/3 dưới xương trụ cẳng tay phải.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 153/KLTTCT-PYTH ngày 07/02/2024 của Trung tâm P: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Khương Văn H2 tại thời điểm giám định là: 62%.
Kết luận giám định vật gây thương tích số 152/KLVGTT-PYTH ngày 02/02/2024 của Trung tâm P: Nếu sử dụng 01 con dao loại dao năm, dài 52cm, phần cán bằng gỗ dài 15cm, phần lưỡi dao kim loại dài 37cm có một cạnh sắc một cạnh tù, vị trí rộng nhất của lưỡi dao là 6,5cm làm vật gây thương tích thì có thể gây ra những vết thương có trong biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Khương Văn H2. Với cường độ tấn công, tính chất mức độ, hậu quả của các thương tích trên thân thể Khương Văn H2 được ghi nhận trong các tài liệu, hồ sơ giám định do Cơ quan trưng cầu cung cấp nếu không được cấp cứu kịp thời thì có thể dẫn đến hậu quả chết người.
Kết luận giám định số 3046/KL-KTHS ngày 20/8/2024 của phòng K Công an tỉnh T đối với các mẫu chất màu nâu đỏ thu trên xe ô tô 36A-513.74 và trên con dao là hung khí gây án: Trên các tăm bông gửi giám định (chứa chất màu nâu đỏ - nghi máu) thu trên xe ô tô 36A-513.74 và trên con dao là hung khí gây án đều có máu của Khương Văn H2. Lưu kiểu gen của Khương Văn H2 tại phòng K Công an tỉnh T.
Tình trạng xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI AVANTE, BKS 36A-513.74: Kính cánh cửa trước bên trái vỡ nát hoàn toàn; Vè che mưa cánh cửa trước bên trái bị gãy vỡ không rõ hình dạng tại hai vị trí, có kích thước lần lượt là 23cm và 10cm; Kính chắn gió trước bị nứt vỡ hình chân chim, kích thước 53cm x 58cm; Mặt taplo phải có 01 vết rách kích thước 04cm; Da bọc bệ tỳ tay có 03 vết rách kích thước lần lượt là 09cm, 04cm và 03cm; Tay nắm cần số có vết rách kích thước 04cm; Da bọc ghế trước bên lái có vết rách không rõ hình, kích thước 07cm x 03cm.
Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS ngày 05/01/2024 Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện N kết luận: Tổng trị giá của tài sản bị thiệt hại tại thời điểm ngày 30/12/2023 là: 26.249.000 đồng.
Khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra vụ án là khoảng sân bê tông phía trước số nhà A thuộc thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và tỉnh lộ 516B đoạn qua thôn T, xã L, huyện N. Tại hiện trường, xe ô tô BKS: 36A-513.74 đang đỗ trên lòng đường phía bên phải đường tỉnh lộ 516B (theo hướng từ ngã ba Phố C đi ngã ba L), đầu xe quay hướng ngã ba Phố C. Phía B là tỉnh lộ 516B đi ngã ba Phố C, phía Nam là tỉnh lộ 516B đi hướng ngã ba L, phía Đông giáp với nhà anh Phạm Văn T1 và Quán Quang H3, phía Tây giáp với căn nhà số A và khu nhà của anh Phạm Văn T1.
Tiến hành khám nghiệm phát hiện xe ô tô BKS 36A-513.74 bị hư hỏng nhiều bộ phận, trên xe ô tô phát hiện nhiều vết màu nâu đỏ (nghi máu). Thu giữ mẫu chất màu nâu đỏ (nghi máu) trên xe ô tô.
Vật chứng thu giữ: 01 con dao loại dao năm, dài 52cm, phần cán bằng gỗ dài 15cm, phần lưỡi dao kim loại dài 37cm có một cạnh sắc một cạnh tù, vị trí rộng nhất của lưỡi dao là 6,5cm.
Về dân sự: Quá trình điều tra anh Khương Văn H2 yêu cầu bị can Nguyễn An Đ phải bồi thường số tiền 80.000.000 đồng, trong đó 26.000.000 đồng là chi phí sửa chữa xe ô tô BKS: 36A-513.74, còn 54.000.000 đồng là chi phí điều trị, thuốc men, tổn thất sức khỏe, tinh thần của người bị hại, tuy nhiên bị cáo chưa bồi thường được khoản tiền nào.
Tại bản cáo trạng số 105/CT-VKS- P2, ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố Nguyễn An Đ về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS và tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS.
* Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa:
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn An Đ về tội “Giết người” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Điểm n Khoản 1 Điều 123 và Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điểm n Khoản 1 Điều 123; Khoản 1 Điều 178; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điểm a Khoản 1 Điều 55; Điều 57; Điều 38; Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt: Nguyễn An Đ mức án từ 12 – 13 năm tù tội “Giết người”; 09 - 12 tháng tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội từ 12 năm 09 tháng – 14 năm tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/12/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí sửa chữa xe ô tô BKS: 36A-513.74 và chi phí điều trị, thuốc men, tổn thất sức khỏe, tinh thần.
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ vật chứng đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá.
* Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh khung hình phạt mà VKSND tỉnh Thanh Hóa đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo nhân thân tốt, sau khi phạm tội đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải, trong vụ án này bị cáo phạm tội giết người chưa đạt. Bị cáo đã từng tham gia Q, gia đình có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị quyết định cho bị cáo hình phạt nhẹ hơn mức án đại diện VKS đề nghị để bị cáo yên tâm cải tạo sớm thành công dân tốt.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan CSĐT, điều tra viên Công an tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên VKSND tỉnh Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa của bị cáo xác định:
Khoảng 08 giờ ngày 30/12/2023, Nguyễn An Đ đến nhà chị Phạm Thị H1 ở thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để tìm con gái, thấy anh Khương Văn H2 đang lùi xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI AVANTE màu đen, BKS 36A-513.74 từ trong nhà chị H1 ra, Đồng tiến lại nói chuyện rồi cả hai phát sinh mâu thuẫn dẫn, sẵn dao đang cầm trên tay Đ cầm dao chém vào cửa kính xe ô tô làm cửa kính bị vỡ, rồi nhoài người qua cửa kính cầm dao chém liên tiếp nhiều nhát vào đầu, người của anh H2 gây ra nhiều vết thương trên cơ thể của anh H2 (trong đó có các vết thương gây vỡ xương thái dương phải, vỡ xương ngón IV đốt 3 bàn tay trái, vỡ 1/3 dưới xương trụ cẳng tay trái, vỡ xương bánh chè trái, gãy 1/3 dưới xương trụ cẳng tay phải) làm anh H2 bị tổn hại 62% sức khỏe và làm hư hỏng xe ô tô BKS 36A-513.74 gây thiệt hại 26.249.000 đồng.
Chỉ từ nguyên cớ nhỏ nhặt, bị cáo có hành vi dùng hung khí nguy hiểm (dao năm) chém liên tiếp vào người anh H2 nhiều nhát vào vùng đầu, mặt, ngực (vùng trọng yếu trên cơ thể) và chân tay, làm anh H2 bị thương tích, xe ô tô bị hư hỏng nhiều bộ phận, hành vi đặc biệt nguy hiểm, thể hiện tính côn đồ, xâm hại trực tiếp đến tính mạng, tài sản của anh H2. Anh H2 không chết là do được cấp cứu kịp thời. Hành vi của Nguyễn An Đ có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS và tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS.
[3] Xét tính chất vụ án:
Đây là vụ án “Giết người” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự trị an địa phương, gây nguy hiểm đến tính mạng, xâm phạm đến sức khỏe và tài sản của người khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Trong vụ án này bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, bị hại không chết nhưng tỷ lệ thương tích khá nặng 62%, hành vi có tính chất côn đồ. Với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình nên giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn An Đ một phần hình phạt vì sau khi phạm tội đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải, trong vụ án này bị cáo phạm tội giết người chưa đạt. Bị cáo đã từng tham gia Q, gia đình có công với cách mạng, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên toà bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí sửa chữa xe ô tô BKS: 36A-513.74, và chi phí điều trị, thuốc men, tổn thất sức khỏe, tinh thần của người bị hại. Xét việc không yêu cầu bồi thường của bị hại là tự nguyện nên chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng thu giữ của vụ án là 01 con dao năm, hung khí bị cáo dùng gây án (Vật chứng đang tạm giữ tại Cục THA dân sự tỉnh T theo biên bản giao nhận số 222 ngày 27 tháng 9 năm 2024).
[7] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm n Khoản 1 Điều 123; Khoản 1 Điều 178; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điểm a Khoản 1 Điều 55; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Nguyễn An Đồng phạm T2 “Giết người” chưa đạt và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn An Đ 12 (Mười hai) năm tù về tội “Giết người”; 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội bị cáo phải chấp hành là 12 năm 06 tháng (Mười hai năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/12/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí sửa chữa xe ô tô BKS: 36A-513.74 và chi phí điều trị, thuốc men, tổn thất sức khỏe, tinh thần.
Chấp nhận sự thoả thuận bị cáo sẽ có trách nhiệm bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 80.000.000 đồng, trong đó 26.000.000 đồng là chi phí sửa chữa các bộ phận hư hỏng của xe ô tô BKS: 36A-513.74, còn 54.000.000 đồng là toàn bộ chi phí điều trị, thuốc men, tổn thất sức khỏe, tinh thần của người bị hại.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng thu giữ của vụ án là 01 con dao năm (Vật chứng đang tạm giữ tại Cục THA dân sự tỉnh T theo biên bản giao nhận số 222 ngày 27 tháng 9 năm 2024.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn An Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Thị Dung |
Bản án số 198/2024/HSST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự: giết người (chưa đạt) và cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 198/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Giết người (chưa đạt) và Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn An Đ giết người, cố ý làm hư hỏng tài sản
