TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 198/2025/KDTM-PT Ngày: 25 - 6 - 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: | Ông Lê Thọ Viên |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Tiến Dũng |
| Ông Nguyễn Ngọc Tài |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hỷ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 83/2025/TLPT-KDTM ngày 27 tháng 02 năm 2025 về vụ việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 43/2024/KDTM-ST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2261/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á; Địa chỉ: Số D đường N, Phường E, Quận C (nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hứa Văn N; Địa chỉ liên lạc: Lầu H, Tòa nhà A; Số D - D đường C, Phường A, Quận C (nay là phường N), Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số 790/UQ-QLN.23 ngày 09/5/2023).
Bị đơn: Công ty TNHH T18; Trụ sở: Số C đường P, Phường A, quận G (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thiện S - Giám đốc; Cư trú tại: Số C đường P, Phường A, quận G (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1971; Cư trú tại: Số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thiện S, sinh năm 1974; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1; (vắng mặt)
- Cùng cư trú tại: Số C đường P, Phường A, quận G (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh;
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1976; Cư trú tại: Số G đường H, phường H, Quận A (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
- Ông Lê Văn S1, sinh năm 1964; Cư trú tại: Số C đường B, ấp E, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
- Bà Trương Thị Thu H, sinh năm 1975; Cư trú tại: Số C đường H, phường T, Quận A (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh; (đề nghị xét xử vắng mặt).
- Ông Lê Trọng H1, sinh năm 1986; (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987; (vắng mặt)
- Trẻ Lê Thị Huyền N1, sinh năm 2007; (vắng mặt)
- Trẻ Lê Trọng Phi L, sinh năm 2012; (vắng mặt)
- Trẻ Lê Trọng H3, sinh năm 2016; (vắng mặt)
- Cùng cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh;
- Ông Trần Phúc H4, sinh năm 1948; (vắng mặt)
- Ông Trần Anh K, sinh năm 1974; (vắng mặt)
- Cùng cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh;
- Hộ Bà Đặng Thị N2, sinh năm 1963; (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1961; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Ngọc N4, sinh năm 1983; (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Ngọc N5, sinh năm 1985; (vắng mặt)
- Ông Phạm Văn B1, sinh năm 1984; (vắng mặt)
- Bà Trần Thị Kim T2, sinh năm 1986; (vắng mặt)
- Trẻ Phạm Nguyễn Khánh H5, sinh năm 2008; (vắng mặt)
- Trẻ Phạm Trí Q, sinh năm 2018; (vắng mặt)
- Trẻ Nguyễn Trần Khánh T3, sinh năm 2012; (vắng mặt)
- Cùng cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh
- Bà Nguyễn Thị Cẩm T4, sinh năm 1976; (vắng mặt)
- Ông Trần Anh T5, sinh năm 1971; (vắng mặt)
- Bà Trần Thị Ngọc T6, sinh năm 1993; (vắng mặt)
- Bà Trần Ngọc Mai T7, sinh năm 2004; (vắng mặt)
- Cùng cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Bùi Thị Kim T8, sinh năm 1994; (vắng mặt)
- Bà Bùi Phạm Tố N6, sinh năm 1998; (vắng mặt)
- Ông Phạm Hoàng V, sinh năm 1998; (vắng mặt).
- Cùng cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Huỳnh Tường T9, sinh năm 1979; (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1987; (vắng mặt)
- Trẻ Huỳnh Hoàng Đ, sinh năm 2016 do cha mẹ làm đại diện (vắng mặt);
- Cùng cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Lê Thị H6, sinh năm 1987; Cư trú tại: 257/40/6 tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).
- Hộ ông Bùi M, sinh năm 1974; (có mặt)
- Bà Bùi Thị T10, sinh năm 1977; (vắng mặt)
- Trẻ Bùi Minh T11, sinh năm 2006; (vắng mặt)
- Cùng cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh;.
- Ông Trần Thế V1, sinh năm 1981; Cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Xuân B2, sinh năm 1960; Cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị V2, sinh năm 1957; (vắng mặt)
- Bà Trần Thị C, sinh năm 1989; (vắng mặt)
- Ông Lưu Viết X1, sinh năm 1986; (vắng mặt)
- Cùng cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh;.
- Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1984; (vắng mặt)
- Ông Bùi Trung Q1, sinh năm 2005; (vắng mặt)
- Cùng cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh;.
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1994; Cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
- Ông Lê Đăng D, sinh năm 1989; Cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
- Bà Bùi Thị Ngọc L2, sinh năm 1983; (vắng mặt)
- Ông Bùi Bá B3, sinh năm 1965; (vắng mặt)
- Cùng cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh;.
- Ông Hoàng Văn M1, sinh năm 1984; Cư trú tại: Số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thanh H7, sinh năm 1990; (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị Phương D1, sinh năm 1991; (vắng mặt)
- Cùng cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Bùi Thị Kim H8, sinh năm 1981; Cư trú tại: Số C ấp F, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).
- Ông Đỗ Cao T12, sinh năm 1981; (có mặt)
- Bà Khương Thị H9, sinh năm 1988; (vắng mặt)
- Cùng cư trú tại: Nhà số B tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố Hồ Chí Minh;
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Trung T, ông Lê Trọng H1, bà Đặng Thị N2, ông Huỳnh Tường T9, bà Lê Thị H6, ông Bùi M, ông Trần Thế V1, ông Hoàng Văn M1, bà Bùi Thị Kim H8, ông Đỗ Cao T12.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trình bày của đại diện nguyên đơn:
Ngân hàng TMCP Á (sau đây gọi tắt là Ngân hàng A) cấp tín dụng cho Công ty TNHH T18 (sau đây gọi tắt là Công ty T18) chi tiết như sau:
- Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số LQĐ.DN.01101008 ngày 13/10/2008.
- Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số LQĐ.DN.01091009 ngày 09/10/2009.
- Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số LQĐ.DN.01050610 ngày 05/6/2010.
- Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số LQĐ.DN.06.171211/TT ngày 22/12/2011.
- Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số LQD.DN.07.171211/TT ngày 22/12/2011.
- Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng số LQD.DN.07.171211/TT/SĐBS-01 ngày 05/01/2012.
- Hợp đồng sửa đổi bổ sung số LQD.DN.07.171211/TT/PL-1 ngày 18/10/2012 và giải ngân cho Công ty TNHH T18 bằng các kế ước nhận nợ chi tiết như sau:
- Khế ước nhận nợ số [...] ngày 09/6/2012; số tiền vay/hạn mức 1.950.000.000 đồng, số tiền thực tế giải ngân 500.000.000 đồng với mục đích bổ sung vốn lưu động kinh doanh các mặt hàng nông – lâm – thủy sản; Lãi suất vay 17%/năm; Lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn.
- Khế ước nhận nợ số [...] ngày 07/7/2012; số tiền vay/hạn mức 1.950.000.000 đồng, số tiền thực tế giải ngân 300.000.000 với mục đích bổ sung vốn lưu động kinh doanh các mặt hàng nông – lâm – thủy sản; Lãi suất vay: 17%/năm; lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn.
- Khế ước nhận nợ số [...] ngày 11/10/2012; số tiền vay/hạn mức 1.950.000.000 đồng, số tiền thực tế giải ngân 700.000.000 đồng với mục đích bổ sung vốn lưu động kinh doanh các mặt hàng nông – lâm – thủy sản; Lãi suất vay: 17%/năm; lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn.
Căn cứ Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ của Ngân hàng A1, Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số LQĐ.DN.11.110611/TT, Hợp đồng tham gia chương trình thẻ tín dụng công ty A1-VISA của Công ty T18 ngày 13/6/2011, Giấy đề nghị cấp thẻ ngày 13/01/2011 của ông Nguyễn Thiện S, các văn bản của ông Nguyễn Thiện S và Công ty T18 ký với Ngân hàng A1 về việc sử dụng thẻ tín dụng. Ngày 15/6/2011, A1 đồng ý cấp thẻ tín dụng số 4791403070003562 cho Công ty T18 với hạn mức thẻ 100.000.000 đồng.
Tổng dự nợ của các hợp đồng trên tính đến ngày 03/4/2013 là vốn gốc 1.610.041.494 đồng; lãi trong hạn là 4.896.020 đồng; lãi quá hạn 131.854.963 đồng.
Khoản nợ trên được bảo đảm bằng các biện pháp bảo đảm sau:
- Thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người thứ ba tại địa chỉ số B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của ông Nguyễn Trung T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba số LQĐ.NH.01101008 ngày 13/10/2008; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba để vay vốn bổ sung số LQĐ.DN.01091009 ngày 09/10/2009; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba để vay vốn bổ sung số LQĐ.NH.01101008/SĐBS-2 ngày 05 vào ngày 07/6/2010; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba để vay vốn bổ sung số LQĐ.BDDN.11.110611/TT ngày 13/6/2011.
- Thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba là thửa đất số 669, tờ bản đồ số 12, xã Hội Nghĩa, huyện T, tỉnh Bình Dương thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Thiện T13 và bà Lê Thị T14 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba số LQĐ.BĐDN.13.030112/TT ngày 05/01/2012.
- Giấy bảo lãnh ngày 13/10/2008 do ông Nguyễn Trung T ký, ông Nguyễn Trung T đồng ý trả thay cho bên được cấp tín dụng (Công ty T18) với A1 khi bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm toàn bộ nghĩa vụ của bên được cấp tín dụng với Al (bao gồm gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, các khoản phải trả khác). Số nợ gốc được bảo lãnh tại một thời điểm không vượt quá 550.000.000 đồng.
- Chứng thư bảo lãnh ngày 21/12/2011 do ông Nguyễn Thiện S và bà Nguyễn Thị Thanh T1 ký. Ông Nguyễn Thiện S và bà Nguyễn Thị Thanh T1 đồng ý trả thay cho bên được cấp tín dụng (Công ty T18) với Ngân hàng A1 khi bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ. Nghĩa vụ trả nợ bao gồm toàn bộ nghĩa vụ của bên được cấp tín dụng với Ngân hàng A1 (bao gồm gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, các khoản phải trả khác). Số nợ gốc được bảo lãnh tại một thời điểm không vượt quá 2.050.000.000 đồng.
Tại đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện số 2257/CV-ABCA.15 ngày 06/5/2015 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á, Ngân hàng Thương mại cổ phần Á xác định ngày 25/3/2015, A1 đã thỏa thuận cho Công ty T18 trả số tiền 450.000.000 đồng và cho rút tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của người thứ ba là thửa đất số 669, tờ bản đồ số 12, xã Hội Nghĩa, huyện T, tỉnh Bình Dương thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Thiện T13 và bà Lê Thị T14. Ngân hàng Thương mại cổ phần Á đã rút toàn bộ phần dư nợ gốc và lãi của khoản vay Khế ước nhận nợ số [...] ngày 07/7/2012 và khoản vay thẻ tín dụng số 4791403010003562.
Tính đến ngày 19/4/2024, Công ty T18 còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A1) theo 02 Khế ước nhận nợ:
- Khế ước nhận nợ số [...] ngày 09/6/2012 số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn 1.247.578 đồng; tiền lãi quá hạn 1.471.916.667 đồng; tổng là 1.973.164.245 đồng.
- Khế ước nhận nợ số [...] ngày 11/10/2012 số tiền nợ gốc 700.000.000 đồng; tiền lãi quá hạn 2.057.708.333 đồng, tổng là 2.757.708.333 đồng.
Tổng dư nợ của 02 Khế ước nhận nợ tính đến ngày 19/4/2024 là 1.200.000.000 đồng tiền nợ gốc; tiền lãi trong hạn 1.247.578 đồng; T15 lãi quá hạn là 3.529.625.000 đồng, tổng là 4.730.872.578 đồng.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á yêu cầu Công ty TNHH T18 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á tổng số nợ theo 02 Khế ước nhận nợ: Khế ước nhận nợ số [...] ngày 09/6/2012 số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn 1.247.578 đồng; tiền lãi quá hạn 1.485.729.167 đồng; tổng là 1.986.976.745 đồng; Khế ước nhận nợ số [...] ngày 11/10/2012 số tiền nợ gốc 700.000.000 đồng; tiền lãi quá hạn 2.077.045.833 đồng, tổng là 2.777.045.833 đồng. Tổng dư nợ của 02 Khế ước nhận nợ tính đến ngày 28/5/2024 là 1.200.000.000 đồng tiền nợ gốc; tiền lãi trong hạn 1.247.578 đồng; T15 lãi quá hạn là 3.562.775.000 đồng, tổng là 4.764.022.578 đồng.
Từ ngày 29/5/2024, Công ty T18 tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng A1 cho đến ngày Công ty T18 trả dứt nợ.
Nếu Công ty T18 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm sẽ được Ngân hàng Al bán theo quy định của pháp luật hoặc Ngân hàng A1 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Trung T, đồng thời đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Trung T, ông Nguyễn Thiện S và bà Nguyễn Thị Thanh T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Giấy bảo lãnh ngày 13/10/2008 và Chứng thư bảo lãnh ngày 21/12/2011.
Ngoài ra, đại diện ngân hàng còn đề nghị bị đơn hoàn lại cho nguyên đơn những chi phí tố tụng nguyên đơn đã tạm ứng trong quá trình giải quyết vụ án.
Bị đơn Công ty TNHH T18 có người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Thiện S trình bày:
Năm 2008, được sự bảo lãnh của ông Nguyễn Trung T, Công ty T18 có vay vốn của Ngân hàng A1 (Chi nhánh L4) để làm vốn kinh doanh. Trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2012, Ngân hàng Al có vay từ 500.000.000 tăng lên 1.200.000.000 đồng. Trong thời gian đó, vào cuối năm 2011, ông Nguyễn Thiện T13 có dùng tài sản bảo lãnh cho Công ty V4 số tiền 300.000.000 đồng cũng tại chi nhánh L4. Trong thời gian vay vốn, Công ty T18 đóng lãi đầy đủ và không trễ hạn bất cứ tháng nào cho Ngân hàng. Vào tháng 9/2012, Công ty nhận được thông báo của Ngân hàng Al với nội dung ngừng cho vay do không định giá lại Tài sản thế chấp của ông Nguyễn Trung T (do tài sản không còn nguyên hiện trạng ban đầu như phía Ngân hàng nói và tìm hiểu là đã cất nhà bán). Trong lúc đang gặp khó khăn về tài chính do kinh doanh thua lỗ, phía Ngân hàng A1 lại yêu cầu trả lại vốn nên Công ty chưa thể thanh toán cho Ngân hàng. Hiện nay, do quy định của Ngân hàng về nợ xâu khiến cho Công ty càng gặp khó khăn chồng chất vì không thể tiếp cận vốn từ bất kỳ Ngân hàng nào để vực dậy kinh doanh, dù vậy công ty vẫn hoạt động và tìm nguồn lợi để thanh toán cho Ngân hàng.
Vào tháng 11/2012, khi biết Công ty chưa có khả năng thanh toán với Ngân hàng A1 về khoản vay mà ông Nguyễn Thiện T13 bảo lãnh. Ông Nguyễn Thiện T13 có đề nghị sẽ bỏ tiền cá nhân ra thanh toán bảo lãnh cho Công ty vay 300.000.000 đồng để nhận lại tài sản thế chấp vì nếu để Ngân hàng tính lãi phạt và kèo dài sẽ thiệt hại cho phần tài sản bảo đảm vay nhưng phía Ngân hàng Al không chấp nhận.
Nay Công ty T18 đề nghị Ngân hàng Al cho khoanh nợ hoặc giãn nợ 24 tháng để Công ty T19 và có thời gian vượt qua giai đoạn khó khăn. Đồng thời đề nghị Ngân hàng A1 giải quyết tài sản cho ông Nguyễn Thiện T13 vì hợp đồng vay ở thời điểm riêng biệt và bảo lãnh phần trách nhiệm vay 300.000.000 đồng cho phần tài sản đảm bảo. Công ty gặp khó khăn chủ tài sản đứng ra thanh toán để nhận lại tài sản đồng thời giúp Công ty giảm bớt chi phí. Công ty T18 cũng đề nghị Ngân hàng xem xét giảm lãi suất cho Công ty.
Tại biên bản hòa giải ngày 27/4/2021, ông Nguyễn Thiện S đại diện Công ty T18 xác nhận tính đến ngày 27/4/2021, Công ty T18 còn nợ Ngân hàng Al theo 02 khế ước nhận nợ:
- Khế ước nhận nợ số [...] ngày 09/6/2012 với số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn 1.354.353 đồng; tiền lãi quá hạn là 1.086.583.334 đồng; phạt chậm trả là 50.006, tổng là 1.587.987.693 đồng.
- Khế ước nhận nợ số [...] ngày 11/10/2012 số tiền nợ gốc 700.000.000 đồng; tiền lãi quá hạn 1.521.216.667 đồng, tổng là 2.221.216.667 đồng. Đại diện Công ty T18 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của Pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung T trình bày: Vào năm 2010, ông có bán nhà đất số 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cho anh Nguyễn Văn B. Do nhà đất số 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thời điểm đó đang thế chấp tại Ngân hàng A1 chi nhánh L4 để bảo lãnh cho khoản vay 1.200.000.000 của Công ty T18 với Ngân hàng A1. Từ thời điểm đó đến nay Công ty T18 không thanh toán nợ cho Ngân hàng A1. Ông có phương án để trả nợ cho Ngân hàng bằng cách là nếu ông B trả cho ông số tiền 550.000.000 đồng, số tiền còn lại Công ty T18 đại diện là ông Nguyễn Thiện S sẽ giải quyết. Đồng thời nếu như các hộ dân đã mua phần nhà đất số 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, ông B, ông S1 phối hợp cùng với ông để giải quyết, lấy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quyền sử dụng đất ở đang thế chấp ở Ngân hàng thì ông sẽ trả số tiền cho các hộ dân.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thiện S trình bày: Đề nghị căn cứ vào Hợp đồng tín dụng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T1 vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà Nguyễn Thị Thanh T1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B trình bày: Ngày 14/10/2010, ông Nguyễn Văn B, ông Lê Văn S1 và bà Trương Thị Thu H cùng góp vốn mua chung nhà đất của ông Nguyễn Trung T. Ông S1 và bà H thống nhất giao ông B làm đại diện mua căn nhà tại địa chỉ số B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Nguyễn Trung T. Sau khi bàn bạc thống nhất, ông và ông Nguyễn Trung T đồng ý bán căn nhà số B do ông Nguyễn Trung T đang sở hữu thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 với giá 4.500.000 đồng/m². Ông B đã đặt cọc cho ông T số tiền 200.000.000 đồng và hẹn ngày 22/10/2010 ra Phòng C1 quận G để ký chuyển nhượng. Đến ngày 22/10/2010, ông B đi đến Phòng công chứng để thực hiện Công chứng mua bán thì ông T nói sổ đất và nhà đã thế chấp tại Ngân hàng Á chưa lấy về được để sang tên cho ông B nên hoãn thời gian công chứng là 25 ngày và ông T nói với ông B là đang kẹt tiền để lấy sổ ra và đề nghị ông B tạo điều kiện đặt thêm số tiền đợt 2 cho ông là 1.000.000.000 đồng. Vì thấy ông T là công an nên ông và ông S1, bà H tin tưởng đồng ý giao cho ông T 1.000.000.000 đồng và theo hợp đồng là đến ngày 30/10/2010 ông T bàn giao đất cho ông B, ông S1 và bà H sử dụng. Hôm tới nhận nhà thì ông T lại nói kẹt tiền và đề nghị giao thêm 300.000.000 đồng và số tiền còn lại sẽ giao hết vào ngày công chứng sang tên. Đến thời hạn ký hợp đồng công chứng theo thống nhất trong hợp đồng nhưng ông T vẫn không lấy sổ từ Ngân hàng ra để sang tên cho ông bà và ông T lại nói với ông B là nếu ông B mua đất để bán thì ông T sẽ đứng ra ký bán cho những người mua đất và sẽ chịu trách nhiệm với người mua. Vì lý do kẹt chưa lấy được sổ ra nên nghĩ ông T ký trực tiếp với người mua cũng được và ông T cũng hứa sẽ lấy sổ về trả cho ông vào năm 2011 để thanh lý hợp đồng. Ngay sau đó ông B và những người góp vốn cất nhà và bán cho một số hộ dân. Sau đó ông B và những người mua nhà và đất hẹn hết năm 2011 vẫn không thấy ông T trao trả sổ nhà và đất nên mọi người đã yêu cầu ông T lấy sổ về trả cho các hộ dân nhưng ông T vẫn không thực hiện cho tới nay ông T vẫn không giải chấp lấy sổ về trả cho các hộ dân. Đề nghị Tòa án giải quyết để các hộ dân nhận được chủ quyền nhà và yên tâm lao động, sinh sống.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn S1 trình bày: Vào tháng 10 năm 2010, ông cùng ông Nguyễn Văn B, bà Trương Thị Thu H có chung nhau mua một miếng đất của ông Nguyễn Trung T tại ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Giá mua bán là 4.500.000 đồng/m2 và đã đặt cọc cho ông tính số tiền 200.000.000 đồng vào ngày 14/10/2010. Hai bên thống nhất ký hợp đồng mua bán tại Phòng công chứng số E quận G vào ngày 22/10/2010. Sau đó ông T lại nói là không ra phòng công chứng được và nói với ông là đưa thêm cho ông T 1.000.000.000 đồng để giải quyết công việc và ông cùng với ông B, bà H đã đưa thêm cho ông T 1.000.000.000 đồng. Sau đó tới ngày 30/10/2010 ôn T lại yêu cầu đưa thêm 300.000.000 đồng và giao nhà cho chúng tôi, hẹn chúng tôi 25 ngày sau ra ký công chứng. Sau đó tới ngày ra công chứng, ông T không lấy được sổ về để giao cho ông (cùng ông B, bà H) và cứ hẹn ông hết ngày này qua ngày khác. Sau đó ông T bàn giao nhà cho ông (cùng ông B, bà H) để tiến hành xây dựng. Chúng tôi đợi ông T lấy sổ về để tiến hành mua bán nhưng lúc đó ông T với với ông (cùng ông B, bà H) là nếu các anh bán thì để ông T ký bán cho mọi người. Lúc đó ông (cùng ông B, bà H) nghĩ ông T là cán bộ công chức Nhà nước nên tin tưởng và luôn yêu cầu ông T mang sổ về để giao lại cho bà con nhưng ông T cứ hẹn hoài cho tới nay ông T vẫn chưa giao sổ để ông giao lại cho bà con. Ông đề nghị Tòa tạo điều kiện để lấy sổ về giao cho bà con yên tâm sinh sống.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Thu H trình bày: Vào tháng 10/2010, bà cùng ông Lê Văn S1, ông Nguyễn Văn B có chung nhau mua một miếng đất của ông Nguyễn Trung T với giá 4.500.000 đồng/m2. Sau đó bà cùng với ông B, ông S1 đã đặt cọc cho ông T số tiền 200.000.000 đồng vào ngày 14/10/2010 và hẹn ra Phòng C1 quận G ký hợp đồng công chứng mua bán. Đến ngày 22/10/2010, ông T lại thông báo là không ra Phòng công chứng để ký công chứng được và yêu cầu tôi cùng với ông B, ông S1 đưa thêm cho ông T số tiền 1.000.000.000 đồng để giải quyết công việc của ông T. Sau đó tới ngày 30/10/2010, ông T lại yêu cầu tôi, ông S1 và ông B đưa tiếp số tiền 300.000.000 đồng để ông T bàn giao nhà, đất đồng thời hẹn tôi, ông B, ông S1 25 ngày sau sẽ ra ký hợp đồng công chứng. Đến ngày hẹn ông T lại nói không lấy được sổ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) ra để ký hợp đồng công chứng và cứ hẹn hết lần này đến lần khác. Sự việc kéo dài cho đến khi chúng tôi xây dựng xong nhà mới tại thửa đất trên và yêu cầu ông Tính G sổ thì ông T lại nói là các anh bán thì để tôi ký cho mọi người. Lúc đó bà cứ nghĩ ông T là đảng viên, cán bộ công chức Nhà nước nên bà tin tưởng và cứ thúc giục ông T mang sổ về để bà giao lại cho bà con đã mua nhưng ông T cứ hẹn đến nay bà vẫn chưa nhận được sổ từ ông T. Bà Trương Thị Thu H cho rằng đến nay sự việc không còn liên quan đến bà nữa, bà đề nghị Tòa án không triệu tập bà lên Tòa để làm việc, bà đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc và xét xử của Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Trọng H1 trình bày: Ngày 06/10/2017, ông có mua căn nhà của ông bà Châu Chấn N7 và Phan Hoàng Thúy H10; Diện tích ngang 4m x dài 10 m = 40m2, thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 08 tại xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 745.000.000 đồng. Ông có đề nghị cho ông làm việc với ông Nguyễn Trung T để cùng người dân giải quyết. Ông Lê Trọng H1 đề nghị Tòa án sớm giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị N2 trình bày: Ngày 04/3/2011, bà có mua nhà của ông Nguyễn Trung T với diện tích 3,3m x 8m tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8ĐT nhà số 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 350.000.000 đồng. Bà có ý kiến là đề nghị được làm việc với ông Nguyễn Trung T (trước đó làm Công an P1, quận G) bà đề nghị Ngân hàng T20 mảnh đất còn trống để thu hồi nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Tường T9 trình bày: Ngày 04/4/2011, tôi có mua của ông Nguyễn Trung T 1 căn nhà có diện tích 3,3m x 8m tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 ĐT nhà số 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 350.000.000 đồng. Nay Tòa án mời lên làm việc với Ngân hàng thì ông đề nghị được gặp ông Nguyễn Trung T để giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H6 trình bày: Vào ngày 15/01/2019, bà có mua của bà Nguyễn Thị L3 1 căn nhà có diện tích 3,4m x 8m với giá 700.000.000 đồng. Nay xảy ra tranh chấp giữa ông chủ đất là Nguyễn Trung T với Ngân hàng Á, tôi có yêu cầu gặp ông Nguyễn Trung T để giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hộ ông Bùi M vắng mặt tại các buổi làm việc nên không ghi nhận được ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thế V1 trình bày: Ông V1 đề nghị Tòa án có hướng giải quyết sớm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Cao T12 trình bày: Ông có mua của ông T16 1 căn nhà với diện tích 4m x 10m giá 880.000.000 đồng. Ông đề nghị Tòa án mời ông Nguyễn Trung T là người chủ đất và cũng là người cầm sổ đất với Ngân hàng lên làm việc với ông. Ông đề nghị Tòa án có hướng giải quyết sớm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Kim H8 trình bày: Vào ngày 28/10/2020, ông Nguyễn Xuân B2 có bán cho bà căn nhà tại địa chỉ ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; có diện tích 3m x 8m; tờ bản đồ số 8, thuộc thửa đất số 21 việc mua bán bằng “giấy tay” với giá 950.000.000 đồng. Ngày 29/3/2024, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp mời ông Nguyễn Xuân B2 đến làm việc và ông Nguyễn Xuân B2 đã gửi giấy mời cho bà. Bà yêu cầu người nào vay tiền thì người đó phải có trách nhiệm, bà và các hộ dân không có trách nhiệm trả tiền cho Ngân hàng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn M1 trình bày: Ngày 10/12/2018, ông có văn bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở và nhà ở vị trí thửa đất số 132; tờ bản đồ số 36 theo tài liệu số (02/CT/-UB) là một phần căn nhà 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; diện tích 3,2 m x 9,2 m = 29.44 m²; kết cấu căn nhà 01 trệt, 01 gác lửng, tường gạch, mái tôn. Hôm nay làm việc tại Tòa án, ông Hoàng Văn M1 có ý kiến: Ông được biết căn nhà ông đang ở có một phần diện tích khoảng 2,3m² nằm trong diện tích đất mà ông Nguyễn Trung T đã thế chấp cho Ngân hàng A1. Ông đề nghị Tòa án làm rõ có đúng hay không. Trường hợp nếu đúng diện tích 2,3m² thì ông đồng ý để Ngân hàng A1 phát mãi và sẽ trả lại diện tích đất 2,3m² còn nếu diện tích đất lớn hơn thì ông sẽ có ý kiến sau.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác: Tòa án không ghi nhận được ý kiến do không đến Tòa án làm việc.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Ngân hàng Thương mại cổ phần Á vẫn như nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Quá trình mua tài sản là các căn nhà xây dựng trên đất tại địa chỉ 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là mua giấy tờ viết tay, hoặc lập vi bằng thể hiện có mua bán, giao tiền. Do hiểu biết hạn chế và hoàn cảnh khó khăn cần nhà để ở nên đã chấp nhận mua những căn nhà trên. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác nhận họ không có yêu cầu độc lập nhưng đề nghị ông T phải có trách nhiệm trả khoản vay cho Ngân hàng A1.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 43/2024/KDTM-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á (A1).
- 1.1 Công ty TNHH T18 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Á số tiền gốc và lãi tính đến ngày 28/5/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là 4.764.022.578 đồng trong đó vốn gốc là 1.200.000.000 đồng; Lãi trong hạn là 1.247.578 đồng; Lãi quá hạn là 3.562.775.000 đồng.
- 1.2 Kể từ ngày 29/5/2024, Công ty TNHH T18 còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số nợ gốc của các khế ước nhận nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng TMCP Á.
- 1.3 Ngay sau khi Công ty TNHH T18, ông Nguyễn Thiện S, bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Nguyễn Trung T thanh toán được toàn bộ khoản vay và các chi phí tố tụng phát sinh, Ngân hàng TMCP Á phải làm thủ tục giải chấp đối với tài sản thế chấp là nhà và đất tại địa chỉ 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8-DT theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc số 2515/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2004, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba số LQĐ.NH.01101008 ngày 13/10/2008 tại Phòng C2 – Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 20027, Quyển số 10; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba để vay vốn bổ sung số LQĐ.DN.01091009 ngày 09 tháng 10 năm 2009 tại Phòng C2 – Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 23346, Quyển số 10/TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba để vay vốn bổ sung số LQĐ.NH.01101008/SĐBS-2 ngày 05 và ngày 07/6/2010 tại Phòng C2 – Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 10911, quyển số 6TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba để vay vốn bổ sung số LQD.BĐDN.11.1106/TT ngày 13/6/2011 tại Phòng C2 – Thành phố Hồ Chí Minh có số công chứng 11281, Quyển số 6 TP/CC-SCC/HĐGD; Đăng ký thế chấp tại Phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện H ngày 13/10/2008 được ký kết giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP Á, bên thế chấp là ông Nguyễn Trung T và trả lại cho ông Nguyễn Trung T các loại giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất ông Nguyễn Trung T đã giao cho Ngân hàng TMCP Á.
- 1.4 Chi phí xem xét thẩm định, đõ vẽ, định giá nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án tổng cộng là 35.866.119 đồng đã được Ngân hàng TMCP Á tạm ứng chi trả. Công ty TNHH T18 phải hoàn lại số tiền 35.866.119 đồng này cho Ngân hàng TMCP Á.
- 1.5 Trường hợp Công ty TNHH T18 không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Á có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8-DT theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc số 2515/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2004 và Bản vẽ hiện trạng vị trí-áp ranh, Bản vẽ hiện trạng nhà tại địa chỉ số B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 19/6/2017.
Ông Nguyễn Trung T, ông Lê Trọng H1, bà Nguyễn Thị H2, trẻ Lê Thị Huyền N1, ông Trần Phúc H4, ông Trần Anh K, bà Đặng Thị N2, ông Nguyễn Văn N3, ông Nguyễn Ngọc N5, ông Phạm Văn B1, bà Trần Thị Kim T2, bà Nguyễn Thị Ngọc N4, trẻ Phạm Nguyễn Khánh H5, trẻ Phạm Trí Q, trẻ Nguyễn Trần Khánh T3, bà Nguyễn Thị Cẩm T4, ông Trần Anh T5, bà Trần Thị Ngọc T6, chị Trần Ngọc Mai T7, bà Bùi Thị Kim T8, bà Bùi Phạm Tố N6, ông Phạm Hoàng V, ông Huỳnh Tường T9, bà Nguyễn Thị Thanh X, trẻ Huỳnh Hoàng Đ, bà Lê Thị H6, ông Bùi M, bà Bùi Thị T10, trẻ Bùi Minh T11, ông Trần Thế V1, ông Nguyễn Xuân B2, bà Nguyễn Thị V3, bà Trần Thị C, ông Lưu Viết X1, bà Phạm Thị L1, ông Bùi Trung Q1, bà Nguyễn Thị P, ông Lê Đăng D, bà Bùi Thị Ngọc L2, ông Bùi Bá B3, ông Nguyễn Thanh H7, bà Phạm Thị Phương D1, bà Bùi Thị Kim H8, ông Đỗ Cao T12, bà Khương Thị H9, ông Hoàng Văn M1 (đối với phần diện tích đất thuộc giấy chứng nhận đã cấp cho ông Nguyễn Trung T bị lấn ranh) và những người khác (nếu có) đang sinh sống trên nhà và đất tại địa chỉ số B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8-DT theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc số 2515/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2004 và Bản vẽ hiện trạng vị trí-áp ranh, Bản vẽ hiện trạng nhà tại địa chỉ số B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 19/6/2017 phải giao tài sản thế chấp nêu trên cho cơ quan thi hành án phát mại.
Số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp được ưu tiên thanh toán theo thứ tự như sau:
- Trả toàn bộ số nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn mà Công ty TNHH T18 còn nợ N8 hành TMCP Á Châu theo các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ.
- Trả cho Ngân hàng TMCP Á chi phí đã tạm ứng để thanh toán chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc, lập bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh, bản vẽ hiện trạng nhà và thẩm định giá tài sản với tổng số tiền 35.866.119 đồng.
- Trường hợp sau khi phát mãi tài sản thế chấp và ông Nguyễn Trung T đã thanh toán hết các nghĩa vụ được nêu tại phần quyết định của bản án này, nếu có tiền xử lý tài sản thế chấp còn dư thì trả lại cho ông Nguyễn Trung T.
- 1.6 Ông Nguyễn Thiện S, bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Nguyễn Trung T phải có nghĩa vụ cùng trả nợ cùng với Công ty TNHH T18 đối với phần Công ty T18 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ dựa trên phạm vi bảo lãnh số nợ gốc tại một thời điểm (đối với ông Nguyễn Thiện S, bà Nguyễn Thị Thanh T1 là 2.050.000.000 đồng và đối với ông Nguyễn Trung T là 550.000.000 đồng).
- 2. Trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm là tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8-DT theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc số 2515/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2004 và Bản vẽ hiện trạng vị trí-áp ranh, Bản vẽ hiện trạng nhà tại địa chỉ số B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 19/6/2017 thì các ông bà Đặng Thị N2, ông Lê Trọng H1, bà Bùi Thị Kim H8, ông Đỗ Cao T12, bà Khương Thị H9, ông Huỳnh Tường T9, ông Trần Thế V1, bà Lê Thị H6, ông Bùi M, bà Bùi Thị T10 được quyền ưu tiên mua toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8-DT theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc số 2515/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2004 và Bản vẽ hiện trạng vị trí-áp ranh, Bản vẽ hiện trạng nhà tại địa chỉ số B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 19/6/2017 nếu các ông bà nêu trên có nhu cầu.
- 3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Công ty TNHH T18 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 112.764.023 đồng.
- Hoàn tiền tạm nộp án phí là 32.201.887 (ba mươi hai triệu, hai trăm lẻ một ngàn, tám trăm tám mươi bảy) đồng cho Ngân hàng TMCP Á theo biên lai thu số 06282 ngày 15 tháng 5 năm 2013 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của đương sự theo luật định.
Ngày 25/6/2024, ông Nguyễn Trung T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với yêu cầu: Năm 2008, 2009, Công ty T18 đã tất toán số tiền vay và yêu cầu Ngân hàng A1 phải trả lại tài sản cho ông và ông không chịu khoản tiền nào khác. Tại cấp phúc thẩm ông đồng ý trả số tiền bảo lãnh 550.000.000 đồng cho Ngân hàng và yêu cầu tòa án xem xét tính hợp pháp của việc bảo lãnh và tài sản thế chấp của ông cho Ngân hàng.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại: Ông Lê Trọng H1 kháng cáo ngày 01/6/2024, bà Đặng Thị N2 kháng cáo ngày 29/5/2024, ông Huỳnh Tường T9 kháng cáo ngày 30/5/2024, bà Lê Thị H6 kháng cáo ngày 04/6/2024, ông Bùi M kháng cáo ngày 30/5/2024, ông Trần Thế V1 kháng cáo ngày 04/6/2024, ông Hoàng Văn M1 kháng cáo ngày 03/6/2024, bà Bùi Thị Kim H8 kháng cáo ngày 29/5/2024, ông Đỗ Cao T12 kháng cáo ngày 01/6/2024 cùng yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét về hoàn cảnh khó khăn, không còn chỗ ở nào khác, việc mua nhà là để ở, không mua bán kinh doanh dưới bất kỳ hình thức nào, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của những người yếu thế như các ông bà. Các ông bà đồng ý với nội dung bản án sơ thẩm, sau khi qua thi hành án thì các ông bà sẽ liên hệ với ngân hàng để thanh toán khoản vay như đã thỏa thuận với Ngân hàng. Ngoài ra, xem xét các hành vi cản trở của ông Nguyễn Trung T17 với các hộ dân. Có biện pháp ngăn chặn kịp thời hành vi gây rối, cản trở việc thi hành án, giúp các ông bà ổn định cuộc sống.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Những người quyền quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Trọng H1, bà Đặng Thị N2, ông Huỳnh Tường T9, bà Lê Thị H6, ông Bùi M, ông Hoàng Văn M1, bà Bùi Thị Kim H8, ông Đỗ Cao T12, ông Nguyễn Trung T trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á có người đại diện theo ủy quyền là ông Hứa Văn N không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của những người quyền quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Trần Thế V1 theo quy định pháp luật.
Đề nghị không chấp yêu cầu kháng cáo của những người quyền quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại nêu trên. Bản án sơ thẩm giải quyết giải quyết tranh chấp là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của những người quyền quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Trung T, ông Lê Trọng H1, bà Đặng Thị N2, ông Huỳnh Tường T9, bà Lê Thị H6, ông Bùi M, ông Trần Thế V1, ông Hoàng Văn M1, bà Bùi Thị Kim H8, ông Đỗ Cao T12 làm trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Ông Trần Thế V1 là người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng bị coi là từ bỏ việc kháng cáo nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông V1 theo quy định tại Điều 295, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét yêu cầu kháng cáo của những người quyền quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại nêu trên có đủ căn cứ để xác định:
Ngân hàng TMCP Á cấp tín dụng cho Công ty TNHH T18 chi tiết như sau:
- Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số LQĐ.DN.01101008 ngày 13/10/2008;
- Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số LQĐ.DN.01091009 ngày 09/10/2009;
- Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số LQĐ.DN.01050610 ngày 05/6/2010;
- Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số LQĐ.DN.06.171211/TT ngày 22/12/2011;
- Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số LQD.DN.07.171211/TT ngày 22/12/2011;
- Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng số LQD.DN.07.171211/TT/SĐBS-01 ngày 05/01/2012.
- Hợp đồng sửa đổi bổ sung số LQD.DN.07.171211/TT/PL-1 ngày 18/10/2012 và giải ngân cho Công ty T18 bằng các kế ước nhận nợ: Khế ước nhận nợ số [...] ngày 09/6/2012; số tiền vay/hạn mức 1.950.000.000 đồng, số tiền thực tế giải ngân 500.000.000 đồng với mục đích bổ sung vốn lưu động kinh doanh các mặt hàng nông – lâm – thủy sản; Lãi suất vay 17%/năm; Lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn; Khế ước nhận nợ số [...] ngày 11/10/2012; số tiền vay/hạn mức 1.950.000.000 đồng, số tiền thực tế giải ngân 700.000.000 đồng với mục đích bổ sung vốn lưu động kinh doanh các mặt hàng nông – lâm – thủy sản; Lãi suất vay 17%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Dư nợ tính đến ngày 28/5/2024, Công ty T18 còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (Ngân hàng A1) theo 02 Khế ước nhận nợ:
- Khế ước nhận nợ số [...] ngày 09/6/2012 số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn 1.247.578 đồng; tiền lãi quá hạn 1.485.729.167 đồng; tổng là 1.986.976.745 đồng.
- Khế ước nhận nợ số [...] ngày 11/10/2012 số tiền nợ gốc 700.000.000 đồng; tiền lãi quá hạn 2.077.045.833 đồng, tổng là 2.777.045.833 đồng.
Tổng dư nợ của 02 Khế ước nhận nợ là 1.200.000.000 đồng tiền nợ gốc; tiền lãi trong hạn 1.247.578 đồng; T15 lãi quá hạn là 3.562.775.000 đồng, tổng là 4.764.022.578 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn thừa nhận vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền trên cho nguyên đơn.
Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền nói trên là có căn cứ, phần này nguyên đơn và bị đơn không kháng cáo nên phát sinh hiệu lực pháp luật.
Đối với các chứng thư bảo lãnh, giấy bảo lãnh:
- Theo Giấy bảo lãnh ngày 13/10/2008 của ông Nguyễn Trung T thể hiện ông Nguyễn Trung T cam kết bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ cho Công ty T18 toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ của Công ty T18 với Ngân hàng A1 (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, các khoản phải trả khác - số nợ gốc tại một thời điểm không vượt quá 550.000.000 đồng) trong trường hợp Công ty T18 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
- Theo Chứng thư bảo lãnh ngày 21/12/2011 của ông Nguyễn Thiện S và bà Nguyễn Thị Thanh T1 thể hiện ông Nguyễn Thiện S, bà Nguyễn Thị Thanh T1 cam kết bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ cho Công ty T18 toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ của Công ty T18 với Ngân hàng A1 (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, các khoản phải trả khác) trong trường hợp Công ty T18 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á khởi kiện ông Nguyễn Thiện S, bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Nguyễn Trung T phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty TNHH T18 trong trường hợp Công ty T18 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ và đượcTòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ.
Về tài sản bảo đảm nợ vay:
Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh có đặc điểm: Về quyền sử dụng đất: Diện tích đất thế chấp 294,4 m²; thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8-DT; loại đất ở; Tài sản gắn liền với đất là: Nhà ở có diện tích 56,3 m², kết cấu tường gạch, mái tôn. Tài sản thế chấp được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 2515/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2004.
Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba số LQĐ.NH.01101008 ngày 13/10/2008 tại Phòng C2 – Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 20027, Quyển số 10; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba để vay vốn bổ sung số LQĐ.DN.01091009 ngày 09 tháng 10 năm 2009 tại Phòng C2 – Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 23346, Quyển số 10/TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba để vay vốn bổ sung số LQĐ.NH.01101008/SĐBS-2 ngày 05 và ngày 07/6/2010 tại Phòng C2 – Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 10911, quyển số 6TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba để vay vốn bổ sung số LQD.BĐDN.11.1106/TT ngày 13/6/2011 tại Phòng C2 – Thành phố Hồ Chí Minh có số công chứng 11281, Quyển số 6 TP/CC-SCC/HĐGD; Đăng ký thế chấp tại Phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện H ngày 13/10/2008 được ký kết giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thương mại cổ phần Á, bên thế chấp là ông Nguyễn Trung T.
Chứng thư bảo lãnh, giấy bảo lãnh thể hiện sự tự nguyện thỏa thuận của ông trong việc bảo lãnh và tài sản mà ông thế chấp tại ngân hàng đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng trình tự theo quy định pháp luật nên việc ông kháng cáo xem xét tính hợp pháp của các giao dịch này là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu kháng cáo của ông Lê Trọng H1, bà Đặng Thị N2, ông Huỳnh Tường T9, bà Lê Thị H6, ông Bùi M, ông Hoàng Văn M1, bà Bùi Thị Kim H8, ông Đỗ Cao T12.
Các ông bà đồng ý với nội dung bản án sơ thẩm, sau khi qua thi hành án thì các ông bà sẽ liên hệ với Ngân hàng để thanh toán khoản vay như đã thỏa thuận với Ngân hàng.
Ngoài ra xem xét các hành vi cản trở của ông Nguyễn Trung T17 với các hộ dân. Có biện pháp ngăn chặn kịp thời hành vi gây rối, cản trở việc thi hành án, giúp các ông bà ổn định cuộc sống.
Yêu cầu của các ông bà được thực hiện tại Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền khi thực hiện việc thi hành án.
Các phần khác của án sơ thẩm các đương sự không kháng cáo, viện kiểm sát không kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật.
Từ nhận xét trên thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, áp dụng pháp luật, nhận định để giải quyết vụ án là có căn cứ nên giữ nguyên bản án sơ thẩm. Kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên là không có căn cứ chấp nhận.
Án phí dân sự phúc thẩm: Sung vào công quỹ nhà nước tiền tạm ứng phí phúc thẩm là 2.000.000 (Hai triệu) đồng của ông Trần Thế V1.
Ông Nguyễn Trung T, ông Lê Trọng H1, bà Đặng Thị N2, ông Huỳnh Tường T9, bà Lê Thị H6, ông Bùi M, ông Hoàng Văn M1, bà Bùi Thị Kim H8, ông Đỗ Cao T12 mỗi người phải chịu là 2.000.000 (Hai triệu) đồng do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 148, Điều 293, Khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Trần Thế V1.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Trung T, ông Lê Trọng H1, bà Đặng Thị N2, ông Huỳnh Tường T9, bà Lê Thị H6, ông Bùi M, ông Hoàng Văn M1, bà Bùi Thị Kim H8, ông Đỗ Cao T12.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A1).
- 1.1 Công ty TNHH T18 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền gốc và lãi tính đến ngày 28 tháng 5 năm 2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là 4.764.022.578 (Bốn tỷ bảy trăm sáu mươi bốn triệu không trăm hai mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi tám) đồng trong đó vốn gốc là 1.200.000.000 (Một tỷ hai trăm triệu) đồng; Lãi trong hạn là 1.247.578 (Một triệu hai trăm bốn mươi bảy nghìn năm trong bảy mươi tám) đồng; Lãi quá hạn là 3.562.775.000 (Ba tỷ năm trăm sáu mươi hai triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
- 1.2 Kể từ ngày 29 tháng 5 năm 2024, Công ty TNHH T18 còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số nợ gốc của các khế ước nhận nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.
- 1.3 Ngay sau khi Công ty TNHH T18, ông Nguyễn Thiện S, bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Nguyễn Trung T thanh toán được toàn bộ khoản vay và các chi phí tố tụng phát sinh, Ngân hàng Á phải làm thủ tục giải chấp đối với tài sản thế chấp là nhà và đất tại địa chỉ 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8-DT theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc số 2515/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15 tháng 11 năm 2004, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba số LQĐ.NH.01101008 ngày 13 tháng 10 năm 2008 tại Phòng C2 – Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 20027, Quyển số 10; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba để vay vốn bổ sung số LQĐ.DN.01091009 ngày 09 tháng 10 năm 2009 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 23346, Quyển số 10/TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba để vay vốn bổ sung số LQĐ.NH.01101008/SĐBS-2 ngày 05 và ngày 07 tháng 6 năm 2010 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 10911, quyển số 6TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người thứ ba để vay vốn bổ sung số LQD.BĐDN.11.1106/TT ngày 13/6/2011 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh có số công chứng 11281, Quyển số 6 TP/CC-SCC/HĐGD; Đăng ký thế chấp tại Phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện H ngày 13 tháng 10 năm 2008 được ký kết giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thương mại cổ phần Á, bên thế chấp là ông Nguyễn Trung T và trả lại cho ông Nguyễn Trung T các loại giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất ông Nguyễn Trung T đã giao cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.
- 1.4 Chi phí xem xét thẩm định, đõ vẽ, định giá nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án tổng cộng là 35.866.119 đồng đã được Ngân hàng Thương mại cổ phần Á tạm ứng chi trả. Công ty TNHH T18 phải hoàn lại số tiền 35.866.119 đồng này cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.
- 1.5 Trường hợp Công ty TNHH T18 không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Á có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8-DT theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc số 2515/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15 tháng 11 năm 2004 và Bản vẽ hiện trạng vị trí-áp ranh, Bản vẽ hiện trạng nhà tại địa chỉ số B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 19 tháng 6 năm 2017.
Ông Nguyễn Trung T, ông Lê Trọng H1, bà Nguyễn Thị H2, trẻ Lê Thị Huyền N1, ông Trần Phúc H4, ông Trần Anh K, bà Đặng Thị N2, ông Nguyễn Văn N3, ông Nguyễn Ngọc N5, ông Phạm Văn B1, bà Trần Thị Kim T2, bà Nguyễn Thị Ngọc N4, trẻ Phạm Nguyễn Khánh H5, trẻ Phạm Trí Q, trẻ Nguyễn Trần Khánh T3, bà Nguyễn Thị Cẩm T4, ông Trần Anh T5, bà Trần Thị Ngọc T6, chị Trần Ngọc Mai T7, bà Bùi Thị Kim T8, bà Bùi Phạm Tố N6, ông Phạm Hoàng V, ông Huỳnh Tường T9, bà Nguyễn Thị Thanh X, trẻ Huỳnh Hoàng Đ, bà Lê Thị H6, ông Bùi M, bà Bùi Thị T10, trẻ Bùi Minh T11, ông Trần Thế V1, ông Nguyễn Xuân B2, bà Nguyễn Thị V3, bà Trần Thị C, ông Lưu Viết X1, bà Phạm Thị L1, ông Bùi Trung Q1, bà Nguyễn Thị P, ông Lê Đăng D, bà Bùi Thị Ngọc L2, ông Bùi Bá B3, ông Nguyễn Thanh H7, bà Phạm Thị Phương D1, bà Bùi Thị Kim H8, ông Đỗ Cao T12, bà Khương Thị H9, ông Hoàng Văn M1 (đối với phần diện tích đất thuộc giấy chứng nhận đã cấp cho ông Nguyễn Trung T bị lấn ranh) và những người khác (nếu có) đang sinh sống trên nhà và đất tại địa chỉ số B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8-DT theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc số 2515/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15 tháng 11 năm 2004 và Bản vẽ hiện trạng vị trí-áp ranh, Bản vẽ hiện trạng nhà tại địa chỉ số B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 19 tháng 6 năm 2017 phải giao tài sản thế chấp nêu trên cho cơ quan thi hành án phát mại.
Số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp được ưu tiên thanh toán theo thứ tự như sau:
- Trả toàn bộ số nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn mà Công ty TNHH T18 còn nợ N8 hành Thương mại cổ phần Á theo các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ.
- Trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á chi phí đã tạm ứng để thanh toán chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc, lập bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh, bản vẽ hiện trạng nhà và thẩm định giá tài sản với tổng số tiền 35.866.119 đồng.
- Trường hợp sau khi phát mại tài sản thế chấp và ông Nguyễn Trung T đã thanh toán hết các nghĩa vụ được nêu tại phần quyết định của bản án này, nếu có tiền xử lý tài sản thế chấp còn dư thì trả lại cho ông Nguyễn Trung T.
- 1.6 Ông Nguyễn Thiện S, bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Nguyễn Trung T phải có nghĩa vụ cùng trả nợ cùng với Công ty TNHH T18 đối với phần Công ty T18 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ dựa trên phạm vi bảo lãnh số nợ gốc tại một thời điểm (đối với ông Nguyễn Thiện S, bà Nguyễn Thị Thanh T1 là 2.050.000.000 (Hai tỷ không trăm năm mươi triệu) đồng và đối với ông Nguyễn Trung T là 550.000.000 (Năm trăm năm mươi triệu) đồng).
- 2. Trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm là tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8-DT theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc số 2515/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15 tháng 11 năm 2004 và Bản vẽ hiện trạng vị trí-áp ranh, Bản vẽ hiện trạng nhà tại địa chỉ số B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 19/6/2017 thì các ông bà Đặng Thị N2, ông Lê Trọng H1, bà Bùi Thị Kim H8, ông Đỗ Cao T12, bà Khương Thị H9, ông Huỳnh Tường T9, ông Trần Thế V1, bà Lê Thị H6, ông Bùi M, bà Bùi Thị T10 được quyền ưu tiên mua toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 257/40/6 ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8-DT theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc số 2515/2004 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2004 và Bản vẽ hiện trạng vị trí-áp ranh, Bản vẽ hiện trạng nhà tại địa chỉ số B ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 19/6/2017 nếu các ông bà nêu trên có nhu cầu.
- 3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Công ty TNHH T18 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 112.764.023 đồng.
Hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 32.201.887 (ba mươi hai triệu, hai trăm lẻ một nghìn, tám trăm tám mươi bảy) đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á theo biên lai thu số 06282 ngày 15 tháng 5 năm 2013 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Án phí dân sự phúc thẩm:
Sung vào công quỹ nhà nước tiền tạm ứng phí phúc thẩm là 2.000.000 (Hai triệu) đồng do ông Trần Thế V1 đã nộp được cấn trừ vào Biên lai thu số 0013968 ngày 14 tháng 6 năm 2024 là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và Biên lai thu số 0057050 ngày 30 tháng 12 năm 2024 là 1.700.000 (Một triệu bảy trăm nghìn) đồng của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Trung T phải chịu là 2.000.000 (Hai triệu) đồng được cấn trừ vào Biên lai thu số 0014126 ngày 03 tháng 7 năm 2024 là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và Biên lai thu số 0057081 ngày 02 tháng 01 năm 2025 là 1.700.000 (Một triệu bảy trăm nghìn) đồng, ông Lê Trọng H1 phải chịu là 2.000.000 (Hai triệu) đồng được cấn trừ vào Biên lai thu số 0013967 ngày 14 tháng 6 năm 2024 là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và Biên lai thu số 0057049 ngày 30 tháng 12 năm 2024 là 1.700.000 (Một triệu bảy trăm nghìn) đồng, bà Đặng Thị N2 phải chịu là 2.000.000 (Hai triệu) đồng được cấn trừ vào Biên lai thu số 0013970 ngày 14 tháng 6 năm 2024 là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và Biên lai thu số 0057048 ngày 30 tháng 12 năm 2024 là 1.700.000 (Một triệu bảy trăm nghìn) đồng, ông Huỳnh Tường T9 phải chịu là 2.000.000 (Hai triệu) đồng được cấn trừ vào Biên lai thu số 0013966 ngày 14 tháng 6 năm 2024 là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và Biên lai thu số 0057043 ngày 30 tháng 12 năm 2024 là 1.700.000 (Một triệu bảy trăm nghìn) đồng, bà Lê Thị H6 phải chịu là 2.000.000 (Hai triệu) đồng được cấn trừ vào Biên lai thu số 0013969 ngày 14 tháng 6 năm 2024 là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và Biên lai thu số 0057046 ngày 30 tháng 12 năm 2024 là 1.700.000 (Một triệu bảy trăm nghìn) đồng, ông Bùi M phải chịu là 2.000.000 (Hai triệu) đồng được cấn trừ vào Biên lai thu số 0013974 ngày 14 tháng 6 năm 2024 là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và Biên lai thu số 0057051 ngày 30 tháng 12 năm 2024 là 1.700.000 (Một triệu bảy trăm nghìn) đồng, ông Hoàng Văn M1 phải chịu là 2.000.000 (Hai triệu) đồng được cấn trừ vào Biên lai thu số 0013971 ngày 14 tháng 6 năm 2024 là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và Biên lai thu số 0057045 ngày 30 tháng 12 năm 2024 là 1.700.000 (Một triệu bảy trăm nghìn) đồng, bà Bùi Thị Kim H8 phải chịu là 2.000.000 (Hai triệu) đồng được cấn trừ vào Biên lai thu số 0013973 ngày 14 tháng 6 năm 2024 là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và Biên lai thu số 0057044 ngày 30 tháng 12 năm 2024 là 1.700.000 (Một triệu bảy trăm nghìn) đồng, ông Đỗ Cao T12 phải chịu là 2.000.000 (Hai triệu) đồng được cấn trừ vào Biên lai thu số 0013965 ngày 14 tháng 6 năm 2024 là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và Biên lai thu số 0057047 ngày 30 tháng 12 năm 2024 là 1.700.000 (Một triệu bảy trăm nghìn) đồng của của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
2024KTPT40309... | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thọ Viên |
Bản án số 198/2025/KDTM-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 198/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng