Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:198/2025/HS-PT

Ngày: 19 tháng 12 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thanh.

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Dung(Toà Hình sự), bà Lê Thị Dung(Toà gia đình)

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:251/2025/TLPT-HS ngày 30/10/2025, do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7- Thanh Hoá

Bị cáo kháng cáo: Trịnh Đức G - Sinh ngày 17/4/1986 tại tỉnh Thanh Hoá.CCCD số: [...]. Nơi thường trú: tổ A, khu phố D, phường T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Đức L và bà Trịnh Thị P. Có vợ là Vũ Thị P1, sinh năm 1988 và có hai con.Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Thanh Hoá, có mặt;

Trong vụ án còn có các bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 50 phút ngày 16/12/2024, Công an huyện V phối hợp với Công an xã V phát hiện Nguyễn Tiến D, sinh năm 1989 trú tại thôn L, xã V, huyện V (nay là xã V), tỉnh Thanh Hóa đang có hành vi tàng trữ hàng cấm, tang vật thu giữ: thu giữ 01 hộp hình chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10 cm (nghi là pháo hoa nổ). Qua đấu tranh, D khai nhận tang vật thu giữ là pháo hoa nổ mua của Lưu Văn H, sinh năm 1992, trú tại: thôn A, xã Y, huyện Y (nay là xã Y), tỉnh Thanh Hóa với giá là 1.350.000 đồng/hộp. D mua của H tổng 3 lần: Lần thứ nhất vào ngày 10/12/2024, mua 2 hộp pháo và đã đốt; lần thứ 2 vào ngày 13/12/2024, mua 01 hộp và đã bị Công an thu giữ hôm nay; lần thứ 3 vào ngày 16/12/2024, mua 01 hộp đã chuyển tiền cho H nhưng chưa nhận pháo.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành triệu tập các đối tượng liên quan làm việc, căn cứ vào tài liệu chứng cứ, đơn xin đầu thú, lời khai của các bị cáo, người liên quan đủ cở sở kết luận được như sau:

Từ cuối tháng 11/2024 đến ngày 10/12/2024, Lưu Văn H có 02 lần mua pháo hoa nổ của Trịnh Đức G, sinh năm 1986, trú tại: tổ A, khu phố D, phường T, tỉnh Đồng Nai tổng 41 hộp pháo hoa nổ với giá 860.000 đồng/hộp (loại 49 quả/hộp) về để bán kiếm lời, H sử dụng số TK: 3512205305203 của mình tại ngân hàng A để chuyển 70.000.000 đồng cho G để đặt mua pháo hoa nổ (trong đó: chuyển 50.000.000 đồng vào TK: 1042438970 của LE VAN TUAN tại ngân hàng V; chuyển 20.000.000 đồng vào TK: 102870214512 của T2 tại ngân hàng V1).

Cuối tháng 11/2024, Trịnh Đức G liên hệ với Phạm Bảo N, sinh năm 1997, trú tại số nhà E, khu phố G, phường L, tỉnh Đồng Nai để đặt mua 80 hộp pháo hoa nổ với giá tiền 650.000 đồng/hộp (loại 49 quả/hộp) sau đó N liên hệ với Đặng Quang C, sinh năm 1993, trú tại tổ A, ấp B, xã T, tỉnh Đồng Nai để mua pháo hoa nổ cho G. G chuyển tiền cho N số tiền 55.000.000 đồng qua TK: 050118886789 ngân hàng MB sau đó N chuyển tiền cho C qua tài khoản 0981552258 ngân hàng M để đặt mua 80 hộp pháo hoa nổ (trong đó: 52.000.000 đồng tiền đặt mua 80 hộp pháo và 3.000.000 đồng tiền công C vận chuyển hết pháo đến để giao). Trong các ngày 04/12/2024 và ngày 10/12/2024, C đã liên hệ với N và G giao 02 thùng pháo hoa nổ (tổng số pháo bên trong 2 thùng là 41 hộp pháo hoa nổ) để chuyển về Thanh Hóa cho Lưu Văn H.

Lần đầu, C chở pháo đến nhà bố đẻ của N là Phạm Văn L1, sinh năm 1976, trú tại: E, khu phố G, phường L, tỉnh Đồng Nai để gửi, N gọi cho Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1990, trú tại: số B, khu phố G, phường L, tỉnh Đồng Nai, H1 nói Ngọc tạo đơn trên App của Giao hàng nhanh sau đó H1 lấy và chuyển về Thanh Hóa (lúc này H1 và ông L1 không biết bên trong thùng hàng là pháo hoa nổ). Lần thứ 2: Pháo được chuyển đến nhà H1, H1 là người tạo đơn trên App của giao hàng nhanh để chuyển về Thanh Hóa (lần này H1 biết rõ bên trong thùng hàng là pháo hoa nổ, do trước đó có thỏa thuận với G và N về việc vận chuyển pháo hoa nổ) H1 được G chuyển 800.000 đồng tiền công.

Sau khi nhận được 02 thùng pháo hoa nổ bên trong có 41 hộp pháo hoa nổ, Lưu Văn H đã bán 22 hộp pháo hoa nổ với giá từ 1.350.000 đồng đến 1.400.000 đồng cho 03 đối tượng gồm Nguyễn Tiến D, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn Đ trên địa bàn huyện Y và huyện V thu về với tổng số tiền là 29.750.000 đồng. Tổng số lượng pháo hoa nổ thu giữ được là 21 hộp (trong đó thu giữ tại nơi ở của H là 19 hộp, thu giữ của Nguyễn Tiến D 01 hộp và thu giữ của Nguyễn Văn T 01 hộp bên trong có 48 ống pháo hình trụ) có tổng khối lượng là 35,28kg.

Ngày 21/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã ra bản Kết luận điều tra số: 81/BKL-CSKT.

Ngày 18/4/2025, VKSND huyện Vĩnh Lộc đã ra bản Cáo trạng số 07/CT-VKSVK đề nghị truy tố đối với các bị cáo gồm: Lưu Văn H, Phạm Bảo N về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 1 Điểu 190 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nguyễn Ngọc H1 về tội vận chuyển hàng cấm theo khoản 1 Điểu 191 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ngày 22/5/2025, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc đã đưa vụ án ra xét xử, tại Bản án số 05/2025/HS-ST tuyên phạt bị cáo Lưu Văn H 24 tháng tù; bị cáo Phạm Bảo N 18 tháng tù và bị cáo Nguyễn Ngọc H1 15 án tù. Bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Do các đối tượng có liên quan gồm Trịnh Đức G và Đặng Quang C đang lẩn trốn cơ quan điều tra chưa làm việc được. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T Quyết định số: 2838/QĐ-CSKT tách vụ án “buôn bán hàng cấm” để điều tra làm rõ hành vi có liên quan đến vụ án của Trịnh Đức G và Đặng Quang C. Nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, Đặng Quang C và Trịnh Đức G đã đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Tại cơ quan điều tra, Trịnh Đức G và Đặng Quang C khai nhận việc mua, bán, vận chuyển pháo hoa nổ phù hợp với lời khai của Lưu Văn H, Phạm Bảo N, Nguyễn Ngọc H1 và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án, xác định:

Cuối tháng 11/2024, Lưu Văn H liên hệ với Trịnh Đức G để mua pháo hoa nổ, sau khi thống nhất giá tiền là 860.000 đồng/hộp (loại 49 quả/hộp), H chuyển cho G 70.000.000 đồng đặt mua pháo hoa nổ. Sau đó, G liên hệ và chuyển cho N 55.000.000 đồng để đặt mua 80 hộp pháo hoa nổ với giá 650.000đ/hộp (loại 49 quả/hộp). N liên hệ và chuyển cho Đặng Quang C 55.000.000 đồng để đặt mua 80 hộp pháo hoa nổ và thống nhất khi có pháo hoa nổ sẽ chuyển thành nhiều lần. C liên hệ qua mạng xã hội Zalo với người đàn ông tên là T1 (không biết địa chỉ) để mua pháo hoa nổ với giá 650.000 đồng/hộp và đã 02 lần mua pháo của T1, cụ thể: ngày 04/12/2024 C gặp T1 ở khu vực ngã tư Bình Phước (giáp gianh giữa TP . và Bình Dương) để lấy 01 thùng pháo hoa nổ (bên trong có 20 hộp) do T1 chở trên xe máy (C không nhớ loại xe và biển số), thanh toán tiền mặt là 13.000.000 đồng và được T1 cho lại 300.000 đồng. C liên hệ với N và được hướng dẫn chở thùng pháo trên đến để tại nhà bố đẻ của N là Phạm Văn L1, N là người tạo đơn trên app giao hàng nhanh và Nguyễn Ngọc H1 là người giao cho nhân viên bưu cục để chuyển về Thanh Hóa cho H. Lần 2: ngày 9/12/2024, C gặp T1 ở ngã tư Bình Phước đưa trước cho T1 13.000.000 đồng để mua 20 hộp pháo hoa nổ. Ngày 10/12/2024, T1 điện cho C (qua Z) đến vị trí cũ để lấy pháo hoa nổ. Do bận việc riêng nên C gọi cho G, sau đó G cho C số điện thoại của người đàn ông (không biết tên, địa chỉ làm nghề xe ôm là người được G nhờ đi lấy hàng) thường gọi là “Mon”, C cho T1 số điện thoại của “Mon” để liên hệ giao pháo hoa nổ, sau khi nhận thùng hàng “Mon” chở đến để tại nhà của H1, H1 là người tạo đơn trên app để chuyển về Thanh Hóa cho H, G trả công cho H1 là 800.000 đồng. Đối với thùng hàng này khi Lưu Văn H nhận được và mở ra bên trong có chứa 21 hộp pháo hoa nổ. Cả 02 lần mua pháo C được N trả tiền công là 1.200.000 đồng cho 41 hộp pháo hoa nổ đã giao hàng thành công (được trừ vào số tiền N đã chuyển trước đó cho C).

Đặng Quang C khai nhận liên hệ với N và G qua số điện thoại 0981.552.xxx và liên lạc với T1 qua tài khoản Zalo “C”. Cuối tháng 12/2024, máy điện thoại bị hỏng nên C đã đã vứt bỏ và đóng thuê bao số điện thoại trên.

Trịnh Đức G khai nhận sử dụng số điện thoại 0965.076.xxx (tài khoản zalo “Cát Bụi”) và số 0976.831.519 để liên lạc với H, N, C và H1, tuy nhiên sau khi biết tin H bị bắt, do lo sợ nên G đã khóa sim và vứt bỏ điện thoại. Vì vậy, quá trình làm việc cả G và C không còn dữ liệu trên điện thoại và tài khoản zalo để cung cấp cho cơ quan điều tra.

* Kết quả trưng cầu giám định:

Ngày 17/12/2024 và ngày 27/12/2024, Cơ quan điều tra đã ra các Quyết định số: 445/QĐ-ĐTTH và số: 467/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng K, Công an tỉnh T giám định pháo thu giữ của các đối tượng. Tại Bản kết luận giám định số: 89/KL-KTHS ngày 20/12/2024 và số 3277/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh T, kết luận:

“- 01 (một) thùng xốp màu trắng kích thước (70 x 50 x 45) cm thu giữ tại nhà Lưu Văn H bên trong có:

  • + 14 (mười bốn) khối hộp, mỗi khối hộp kích thước (17 x 17 x 10) cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và dòng ký tự “KS4-4911”, bên trong khối hộp có 49 vật hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng sợi dậy ngòi, mỗi vật dài 10 cm, đường kính 2,4 cm của thùng xốp niêm phong gửi giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng số pháo trên là 23,72 kg.
  • + 04 (bốn) khối hộp, mỗi hộp kích thước (17 x 17 x 10) cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và dòng ký tự KS4-49CD, bên trong khối hộp có 49 vật hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng sợi dậy ngòi, mỗi vật dài 10 cm, đường kính 2,4 cm của thùng xốp niêm phong gửi giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng số pháo trên là 6,56 kg.
  • + 01 (một) khối hộp kích thước (17,5 x 1,75 x 10) cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong có 49 lỗ, mỗi lỗ có đường kính 1,9 cm, được kết nối với nhau bằng sợi dậy ngòi dưới đáy hộp của thùng xốp niêm phong gửi giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng số pháo trên là 1,7 kg.
  • - 01 (một) hộp cát tông kích thước (19 x 22 x 12) cm, ký hiệu pháo thu của Nguyễn Tiến D bên trong có: 01 (một) khối hộp kích thước (17 x 17 x 10) cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và dòng ký tự KS4-4911, bên trong có 49 vật hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng sợi dậy ngòi, mỗi vật dài 10 cm, đường kính 2,4 cm của hộp cát tông niêm phong gửi giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng số pháo trên là 1,76 kg.
  • - 01 (một) hộp cát tông kích thước (24 x 18 x 11) cm, ký hiệu pháo thu của Nguyễn Văn T, bên trong có: 48 (bốn mươi tám) vật hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng sợi dậy ngòi, mỗi vật dài 10 cm, đường kính 2,4 cm của hộp cát tông niêm phong gửi giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng 48 (bốn mươi tám) vật trên là 1,54 kg.

Căn cứ tài liệu thu giữ dữ liệu video nhà ông Phạm Văn L1, ngày 23/01/2025 Cơ quan điều tra ra Quyết định số 34/QĐ-CSĐT trưng cầu Phòng KTHS Công an tỉnh T giám định kỹ thuật số, điện tử có bị cắt ghép, chỉnh sửa không, trích xuất hình ảnh đối tượng có trong các video. Ngày 03/03/2025, Phòng KTHS Công an tỉnh T có Bản kết luận giám định số 1034/KL-KTHS, kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03 tệp video gửi giám định, đồng thời trích xuất 06 ảnh trong các tệp video gửi giám định.”

* Về vật chứng của vụ án

  • - Đối với vật chứng của vụ án là pháo hoa nổ bao gồm: 19 hộp pháo hoa nổ (thu giữ của Lưu Văn H) tổng khối lượng: 31,98 kg; 01 hộp pháo hoa nổ (thu giữ của Nguyễn Tiến D) khối lượng: 1,76 kg; 48 quả pháo nổ (thu giữ của Nguyễn Văn T) tổng khối lượng: 1,54 kg.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng số Imei: 353418101117361/01 của Lưu Văn H.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10, màu đen, đã qua sử dụng; số Imei: 869839055025986 của Nguyễn Ngọc H1.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Unihertz Tank 2 Pro, màu đen bạc đã qua sử dụng; số Imei: 352105610154933, gắn thẻ sim: 0343.923.567 của Phạm Bảo N.

(Toàn bộ số vật chứng nêu trên đã được xử lý theo Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HSST ngày 24/9/2025 của TAND khu vực 5 -Thanh Hoá đã:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS:Tuyên bố: Các bị cáo Trịnh Đức G, Đặng Quang C phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Trịnh Đức G 19 (mười chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 19/6/2025; bị cáo Đặng Quang C:19(mười chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13/6/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trịnh Đức G và Đặng Quang C.

Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với số tiền các bị thu lời bất chính và tiền sử dụng vào việc phạm tội. Cụ thể: Truy thu của bị cáo Trịnh Đức G số tiền 13.700.000đ (mười ba triệu, bảy trăm nghìn đồng), truy thu của Đặng Quang C số tiền 29.300.000₫ ( hai mươi chín triệu, ba trăm nghìn đồng).

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 25/9/2025 bị cáo Trịnh Đức G kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

  • -Về trình tự thủ tục: Người tiến hành tố tụng và bị cáo đều thực hiện đúng trình tự tố tụng.
  • -Về nội dung kháng cáo: Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới đó là: đã nộp hết số tiền bị truy thu là 13.700.000 đồng (mười ba triệu, bảy trăm nghìn đồng) và 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm, đây là tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị HĐXX căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: giảm cho bị cáo Trịnh Đức G từ 05 đến 07 tháng tù; Đề nghị xem xét giảm cho bị cáo Đặng Quang C từ 02 đến 03 tháng tù.
  • Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;

Bị cáo đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, xin được giảm nhẹ hình phạt;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng và thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Trịnh Đức G làm trong hạn luật định và hợp lệ, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận: Do hám lời, muốn kiếm thêm lợi nhuận từ việc buôn bán pháo nổ nên Trịnh Đức G, Đặng Quang C đã thực hiện hành vi buôn bán pháo nổ. Cụ thể như sau:

Trịnh Đức G vì giúp Lưu Văn H có pháo để bán nên đã liên hệ với Phạm Bảo N và qua N quen biết với Đặng Quang C để C mua pháo cho H, ngoài ra G còn liên hệ với Nguyễn Ngọc H1 để nhờ H1 chuyển hàng về Thanh Hóa cho Lưu Văn H. Trong quá trình mua bán pháo hoa nổ, G đã nhận của H tổng số tiền là 70.000.000đ, đã chuyển cho C thông qua N số tiền là 55.000.000đ, G trả công cho H1 số tiền là 800.000₫, G trả công cho người lái xe ôm tên “Mon” là 500.000đ. Còn lại 13.700.000đ là tiền mà G được hưởng lợi sau khi đặt mua 80 hộp pháo hoa nổ.

Đặng Quang C vì giúp G có pháo để bán cho H nên đã liên hệ với đối tượng tên T1 để mua pháo hoa nổ. Đặng Quang C đã mua thành công 02 lần với tổng số pháo hoa nổ là 41 hộp, sau đó chuyển đến chỗ Phạm Bảo Ngọc. Đặng Quang C đã nhận 55.000.000đ từ Trịnh Đức G, trong đó 1.200.000đ là tiền công C được nhận, 26.000.0000đ là tiền mua 41 hộp pháo hoa nổ, người bán pháo cho lại C 300.000đ. Hiện tại C đang giữ số tiền 29.300.000đ, trong đó 1.500.000đ là tiền hưởng lợi bất chính, 27.800.000đ là tiền mua pháo và tiền công trả cho C nhưng C chưa thực hiện được.

Các bị cáo thực hiện việc mua bán và vận chuyển pháo 02 lần vào các ngày 04/12/2024 và ngày 10/12/2024, tuy nhiên quá trình điều tra chỉ thu giữ được 21 hộp pháo hoa nổ từ H, phù hợp số lượng và trọng lượng mà các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 10/12/2024. Do đó, chỉ đủ cơ sở kết luận các bị cáo phạm tội 01 lần.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý pháo, vật liệu nổ, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Do đó, toà án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trịnh Đức G và bị cáo Đặng Quang C tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trịnh Đức G: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt:

Thấy rằng: Bị cáo thành khẩn khai nhận tội, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 19 tháng tù là có phần nghiêm khắc; Sau khi xét xử sơ thẩm đã động viên người nhà nộp toàn bộ số tiền thu lời bất chính trong vụ án là 13.700.000 đồng và nộp hết tiền án phí hình sự sơ thẩm cho thấy bị cáo có ý thức tốt trong chấp hành pháp luật, thể hiện rõ sự ăn năn hối cải bằng hành động, việc làm cụ thể, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên HĐXX phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo giảm nhẹ một phần hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

Đại diện viện kiểm sát cũng đề nghị giảm cho bị cáo Đặng Quang C từ 02 đến 03 tháng tù mặc dù bị cáo không kháng cáo: Bị cáo Đặng Quang C có nhân thân xấu, ngoài việc đang thi hành án tù bị cáo chưa thực hiện các biện pháp tư pháp đối với khoản tiền bị truy thu do thu lời bất chính là 29.300.000đ (hai mươi chín triệu, ba trăm nghìn đồng), số tiền này nhiều gấp đôi của bị cáo Trịnh Đức G nên giảm cho bị cáo C là không phù hợp.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5]Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí HSPT.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Đức G, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HSST ngày 24/9/2025 của TAND khu vực 7 -Thanh Hoá như sau:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Đức G phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Xử phạt: Bị cáo Trịnh Đức G 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 19/6/2025. Công nhận bị cáo đã thi hành án xong với khoản tiền bị truy thu là 13.700.000 đ (mười ba triệu, bảy trăm nghìn đồng), và án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ theo Biên lai thu tiền số 0000846 ngày 16/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá (người nộp là Trịnh Đức N1)

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trịnh Đức G không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND Tối cao;
  • - VKSND, Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND, VKSND khu vực 7 tỉnh Thanh Hóa
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Phương Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 198/2025/HS-PT ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 198/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger