|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 198/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30 tháng 06 năm 2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thành; bà Nguyễn Thị Bích
Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Đình Đức - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 30 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 358/2024/TLST-HNGĐ ngày 20/12/2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐ-ST ngày 15/04/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 80/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30/05/2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 2004, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y. (nay là TDP T, phường T, thành phố B), tỉnh Bắc Giang. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- * Bị đơn: Anh Ong Thế T1, sinh năm 1998, địa chỉ: thôn B, xã C, huyện Y (nay là Tổ dân phố B, phường C, thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Hiện đang ở nước ngoài, không rõ địa chỉ cụ thể, (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hồng Th bày: Chị và anh Ong Thế Tlau trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 06/10/2022 tại UBND xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc một thời gian, đến năm 2023, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, chồng thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị không thể chung sống với anh T1n chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ong Thế T1.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Ong Trâm A, sinh ngày 11/07/2023. Hiện nay cháu vẫn đang được chị nuôi dưỡng và chăm sóc, khi ly hôn chị nhận nuôi con và không yêu cầu anh Tlấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Ong Thế T1: Hiện đang lao động ở nước ngoài, Tòa án đã tiến hành giao Thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho anh Ong Thế T1Đặng Thị Hẹ đẻ của Tlhay cũng như niêm yết các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật.
* Tài liệu Tòa án thu thập được:
- - Tại biên bản xác minh với bà Đặng Thị Hẹ đẻ anh Ong Thế Thấp: Bà là mẹ đẻ của anh Ong Thế T1, hiện anh Ong Thế T1g N, địa chỉ cụ thể ở đâu bà cũng không rõ. Việc chị T kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với anh T1, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị T.
- - Tại biên bản xác minh ngày 26/03/2025, ông Hoàng Hữu Đổ trưởng TDP B, phường C, thành phố Bcấp: Anh Ong Thế T1g dân sinh sống tại địa phương. Theo như gia đình cho biết thì anh T1 động tại Nhật Bản từ khoảng tháng 9, tháng 10 năm 2023. Quá trình sinh sống tại địa phương cũng không thấy anh T1 Tâu thuẫn gì, kể từ khi anh T1 động tại Nhật Bản thì chị Tở chung với bố mẹ anh T1.
- - Ngày 30/5/2025, Tòa án mở phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Tòa án hoãn phiên tòa.
- - Tại phiên tòa hôm nay bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- - Ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Nguyên đơn chấp hành theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng Tử cho chị Nguyễn Thị Hồng T ly hôn anh Ong Thế T1. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Ong Trâm A, sinh ngày 11/07/2023 cho chị Nguyễn Thị Hồng T sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng T chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Hồng Tơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung đối với anh Ong Thế T1. Bị đơn anh Ong Thế T1 chỉ thường trú tại tỉnh Bắc Giang nhưng đang lao động tại Nhật Bản, hiện không có mặt tại địa phương. Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn là anh Ong Thế Tlác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Qua xác minh tại gia đình và địa phương, hiện tại anh T1 thường trú tại tổ dân phố B, phường C, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, hiện anh T1 ăn tại Nhật Bản không có mặt tại địa phương. Tòa án có văn bản xác minh thông tin của anh T1c Cục Qng cấp anh T1t cảnh ngày 01/10/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam. Tòa án có Quyết định cung cấp chứng cứ yêu cầu gia đình anh Tlấp địa chỉ của anh T1gia đình anh T1cung cấp được địa chỉ của anh T1. Anh T1 ăn ở Nhật Bản không có mặt tại địa phương và không thông báo địa chỉ cho chị Tia đình biết là cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã giao toàn bộ giấy tờ và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Gia đình anh T1ng báo nội dung các văn bản của Tòa án cho anh Thiết, như vậy xác định anh Tlc Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng Tnh Ong Thế Tin trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương. Trước khi kết hôn hai bên có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn được Ủy ban nhân dân UBND xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là phường C, thành phố B), tỉnh Bắc Giangiấy chứng nhận kết hôn. Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hồng Tnh Ong Thế T1nguyện, không vi phạm các điều cấm kết hôn phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Hồng Tnh Ong Thế Tlian đầu hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm không hòa hợp được và anh Tli nước ngoài từ năm 2023, vợ chồng xa cách, không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Đến nay chị Tđịnh tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án xử cho chị T ly hôn với anh T1.
Tòa án đã mở phiên hòa giải nhưng anh Tlcó mặt để tham gia hòa giải và không có mặt để tham gia các phiên tòa xét xử. Như vậy xác định anh Tlcó thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[4]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng Tnh Ong Thế T1 con chung là cháu Ong Trâm A, sinh ngày 11/07/2023. Khi ly hôn chị T nuôi cháu Trâm A. Hội đồng xét xử nhận thấy: Hiện nay cháu Trâm Ai 36 tháng tuổi, anh T1c ngoài, chị Tguyện vọng được nuôi con, nên cần giao cho chị T tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
[5]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng Tg yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
[6]. Vì lợi ích của người con nên Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
[7]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị Hồng Tg yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[8]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng T chịu án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, các Điều 238, 271, 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng T ly hôn anh Ong Thế T1.
- Về con chung: Giao cháu Ong Trâm A, sinh ngày 11/07/2023 cho chị Nguyễn Thị Hồng T tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng T chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000287 ngày 17/12/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Tộp án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- - Anh Ong Thế T1ền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- - Chị Nguyễn Thị Hồng Tuyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ngọ Thị Thanh Hảo |
Bản án số 198/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 198/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Thắm xin ly hôn anh Trường