|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU Bản án số: 198/2025/DS-ST Ngày 17 - 6 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Hồng Xuyên
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Bằng
- Bà Vũ Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Đát - Là Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 202/2025/TLST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay” giữa:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng K; Sinh năm 1989. (Có mặt)
- Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: 1. Bà Trương Thanh N; Sinh năm 1973. (Vắng mặt)
- 2. Ông Trương Thanh T; Sinh năm 1981 (Vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: Số B, đường T, khóm C, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: Vào năm 2024, do quen biết từ trước nên bà Trương Thanh N và em là ông Trương Thanh T có hỏi vay tiền nên tôi đã tham gia hụi và hốt đầu để lấy tiền cho bà N và ông T vay và góp lại hàng kỳ để tôi đóng hụi, tôi đã cho bà N và ông T vay nhiều lần với tổng số tiền là 186.000.000đ, cụ thể: Vay 30.000.000đ vào ngày 26/3/2024; vay 62.000.000đ vào ngày 15/4/2024; vay 62.000.000đ vào ngày 25/4/2024; vay 25.000.000đ vào ngày 16/5/2024 và vay 12.000.000₫ vào ngày 03/4/2024, sau đó bà N và ông T có trả được 5.000.000đ. Tại các biên nhận bà N và ông T thoả thuận đóng lại thành 20 kỳ, mỗi kỳ 10 ngày, đóng số tiền 12.000.000đ. Tổng số tiền phải góp lại là 240.000.000đ. Bà N và ông T chỉ đóng được 90.000.000đ thì ngưng không đóng theo thoả thuận. Đến ngày 24/02/2025al bà N và ông T hứa trả mỗi tháng 2.000.000đ cho đến khi hết nợ, nhưng sau đó chỉ trả được 1.060.000đ và tôi có mua cái ghế bố cấn trừ thêm số tiền 480.000đ. Tổng số tiền bà N và ông T trả tôi đến ngày 24/02/2025 al là 91.540.000đ. Nay tôi yêu cầu bà N và ông T trả cho tôi số tiền vốn còn lại là 186.000.000₫–91.540.000đ = 94.460.000đ, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Trương Thanh N và ông Trương Thanh T đầy đủ theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn được xác định là tranh chấp hợp đồng vay, vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Trương Thanh N và ông Trương Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
[2] Xét nội dung tranh chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng theo lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện việc bà N và ông T có vay tiền ông K có ký vào “Giấy biên nhận” ngày 26/3/2024 vay số tiền 30.000.000đ, “Giấy biên nhận” ngày 15/4/2024 vay số tiền 62.000.000đ, “Giấy biên nhận” ngày 25/4/2024 vay số tiền 62.000.000đ, “Giấy biên nhận” ngày 16/5/2024 vay số tiền 25.000.000đ và “Giấy biên nhận” ngày 03/4/2024 vay số tiền 12.000.000đ. Tổng số tiền vốn vay theo các biên nhận là 191.000.000đ, theo nguyên đơn bị đơn đã trả 5.000.000đ, còn lại 186.000.000₫ và thoả thuận chia trả thành 20 kỳ đóng. Tuy nhiên bị đơn không thực hiện theo thoả thuận, tính đến ngày xét xử chỉ trả được tổng cộng 91.540.000đ. Nay nguyên đơn yêu cầu đối trừ số tiền đã trả vào tiền nợ gốc, yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ là 186.000.000₫–91.540.000₫ = 94.460.000₫, không yêu cầu tính lãi. Xét thấy giao dịch giữa nguyên đơn và bị đơn là vay có lãi, tuy nhiên nguyên đơn không yêu cầu tính lãi là tự nguyện và phù hợp với quy định nên được chấp nhận.
Đối với bị đơn bà N và ông T, đã được Toà án thông báo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không gửi ý kiến hoặc trình bày phản bác đối với yêu cầu của nguyên đơn. Xét thấy, việc nguyên đơn trình bày tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định; nguyên đơn không phải chịu nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng K. Buộc bà Trương Thanh N và ông Trương Thanh T trả cho ông Nguyễn Hoàng K số tiền 94.460.000đồng.
Kể từ ngày ông K có đơn yêu cầu thi hành án, bà N và ông T không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Trương Thanh N và ông Trương Thanh T phải chịu, số tiền là 4.723.000đồng. Ông K không phải chịu nên được nhận lại số tiền dự nộp là 2.361.000đ tại Biên lai số 0010598 ngày 31/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Hồng Xuyên |
Bản án số 198/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay
- Số bản án: 198/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu cảu nguyên đơn
