TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 198/2025/DS-PT
Ngày: 25-3-2025
V/v Tranh chấp chia thừa kế.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh
Các thẩm phán: Ông Đỗ Minh Hoàng
Bà Trần Thị Liên Anh
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương - Thẩm tra viên chính Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thu Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 và ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 565/2024/TLPT-DS ngày 12/12/2024 về việc “Tranh chấp chia thừa kế”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 107/2024/DS-ST ngày 12 và 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 78/2025/QĐ-PT ngày 17/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1966; Có mặt.
Địa chỉ: C Khu Đ, xã T, huyện T, Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Q:
Luật sư Lê Giang N và luật sư Đỗ Thị O, Văn phòng L2. Địa chỉ: P Tòa N, Khu K, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hùng T, sinh năm 1974; Xin vắng mặt.
Địa chỉ: C Khu Đ, xã T, huyện T, Hà Nội.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1962; Địa chỉ: số E ngõ D Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà P: Luật sư Trần Văn L, luật sư Lê Văn T1, Công ty L3. Địa chỉ: P tòa nhà G, D10 G, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Luật sư L vắng mặt, luật sư T1 có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Các S, sinh năm 1968; Vắng mặt.
Đại diện theo uỷ quyền của ông S: ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1966.
Địa chỉ: C Khu Đ, xã T, huyện T, Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 31/10/2023; Có mặt.
- Bà Nguyễn Thu H, sinh năm 1979 (vợ ông Q); Có mặt.
- Chị Nguyễn Vân A1, sinh năm 2004 (con ông Q và bà H); Vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Bảo B, sinh năm 2009 (con ông Q và bà H);
- Cháu Nguyễn Hải A, sinh năm 2012 (con ông Q và bà H);
Cùng địa chỉ: C Khu Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của cháu B và cháu A: ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thu H, sinh năm 1979; Có mặt.
- Anh Đặng Xuân L1, sinh năm 1996; Vắng mặt.
Địa chỉ: C Khu Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thu H, sinh năm 1980; Xin vắng mặt.
Địa chỉ: Số E, ngõ B đường X, quận C, thành phố Hà Nội.
- Bà Đỗ Thị Như H1, sinh năm 1977; Xin vắng mặt.
- Bà Đỗ Thị Hồng N1, sinh năm 1981; Xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số nhà E ngõ B (số A ngõ E cũ), đường X, quận C, thành phố Hà Nội.
- Bà Đỗ Thị Thúy N2, sinh năm 1984; Xin vắng mặt.
Địa chỉ: Số B đường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng.
Do có kháng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 01/6/2023, bổ sung ngày 02/11/2023 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc Q (ông Q đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Các S) trình bày:
Bố ông là cụ Nguyễn Xuân N3 và mẹ là cụ Đỗ Thị T2 có 02 khối tài sản gồm nhà tập thể tại số G C, quận B, Hà Nội, có nguồn gốc được phân cho cụ Nguyễn Xuân N3 và thửa đất có diện tích 38m² tại ngõ A đường X, quận C, thành phố Hà Nội, có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của em trai cụ T2 là cụ Đỗ Văn H2 từ năm 1996. Cụ Nguyễn Xuân N3, mất năm 2002, cụ Đỗ Thị T2, mất năm 2015. Cụ N3 và cụ T2 có 04 người con chung là Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Các S (tên gọi khác là Nguyễn Ngọc S1), Nguyễn Ngọc Q và Nguyễn Hùng T. Ngoài ra cụ N3, cụ T2 không có vợ, chồng, con riêng, con nuôi nào khác.
Năm 2002, cụ N3 mất, không để lại di chúc định đoạt tài sản. Cụ T2 và các con là bà P, ông S1 và ông T vẫn trực tiếp sinh sống tại nhà đất ở số G, Cao Bá Q1, Hà Nội. Năm 2007, gia đình ông chuyển nhượng nhà đất này được số tiền
3.500.000.000 đồng, chia cho bà P 620.000.000 đồng (có giấy nhận tiền của bà P). Số tiền còn lại, cụ T2 mua đấu giá diện tích 143,3m² đất tại xã T, huyện T, thành phố Hà Nội và xây dựng nhà ở 3 tầng trên diện tích đất trúng đấu giá. Ngày 28/9/2007, cụ T2 được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với diện tích 143,3m² đất trúng đấu giá nêu trên. Cụ T2, vợ chồng ông, ông T và ông S1 cùng trực tiếp sinh sống tại nhà đất thuộc thôn Y, xã T cho đến khi cụ T2 chết. Gia đình ông, ông T và ông S1 (ông T, ông S1 là người khuyết tật, được hưởng chế độ trợ cấp xã hội) vẫn đang trực tiếp sinh sống tại nhà đất này cho đến nay.
Đối với nhà đất tại ngõ A, đường X, quận C, thành phố Hà Nội, sau nhận chuyển nhượng đất của ông H2, ông cùng cụ N3 trực tiếp sinh sống tại nhà đất này từ năm 1996 cho đến năm 2002 (thời điểm cụ N3 mất), sau đó vợ chồng ông sinh sống cho đến năm 2007 mới chuyển về sống cùng cụ T2 và các em trai tại nhà đất ở T, T, Hà Nội cho đến nay.
Do điều kiện gia đình khó khăn, khi cụ T2 còn sống có cho thuê một phần nhà đất ở T để lấy tiền trang trải sinh hoạt của gia đình, nhà đất ở Cầu G vẫn để không. Tiền cho thuê nhà ở T do cụ T2 quản lý. Tháng 5 năm 2023, ông cho chị Nguyễn Thu H thuê lại nhà ở Cầu G và tháng 8 năm 2023 cho anh Đặng Xuân L1 thuê lại 1 phần diện tích nhà ở T để có điều kiện trang trải cuộc sống và chăm sóc cho 2 em trai không có khả năng lao động là ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S.
Ngày 24/5/2007, theo nguyện vọng của cụ T2, ông đưa cụ T2 đến Trung tâm T5 tại địa chỉ số G N, quận B, Hà Nội để nhờ tư vấn lập di chúc định đoạt tài sản của cụ T2. Cụ T2 tự đọc nội dung định đoạt tài sản của mình cho nhân viên Trung tâm T5, với nội dung cụ T2 để lại toàn bộ tài sản của cụ T2 là nhà đất tại xã T và tại ngõ E đường X, quận C cho 3 người con trai là ông Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Các S và Nguyễn Hùng T. Đối với con gái là bà Nguyễn Thị Kim P đã được chia 600.000.000 đồng tạo lập chỗ ở mới nên không có quyền lợi gì từ nhà đất tại T và Cầu G. Di chúc lập thành 04 bản, được cụ T2 giao cho ông 01 bản, cụ T2 giữ 03 bản. Đến khoảng đầu năm 2015 thì cụ T2 giao nốt 03 bản di chúc còn lại cho ông quản lý.
Ông khẳng định tại thời điểm lập di chúc, cụ T2 đã trúng đấu giá quyền sử dụng tại Y, T, đang xây dựng nhà ở nên việc cụ T2 lập di chúc định đoạt nhà đất tại T và Cầu G là hoàn toàn hợp pháp. Bản di chúc của cụ T2 lập ngày 24/5/2007 có 02 người làm chứng, thể hiện đúng với ý chí, nguyện vọng của cụ T2 nên có giá trị pháp lý. Ngoài ra, cụ T2 không để lại di chúc nào khác.
Ông đề nghị Tòa án chia thừa kế theo di chúc cụ T2 lập ngày 24/5/2007 để ông, ông T và ông S được sở hữu, sử dụng chung tài sản thừa kế theo nguyện vọng của cụ T2. Ông không yêu cầu bóc tách, phân chia quyền, lợi ích của ông, ông T và ông S.
Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác và khẳng định cụ N3, cụ T2 không để lại di sản nào khác. Nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim P về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với nhà, đất tại xã T, T, Hà Nội; nhà đất tại đường X, Cầu G, Hà Nội và khoản tiền 1.125.600.000 đồng tiền cho thuê nhà tại T và Cầu G từ năm 2008 đến năm 2023.
* Bị đơn là ông Nguyễn Hùng T trình bày:
Ông xác nhận lời khai về gia hệ, di sản và quá trình quản lý di sản như ông Q trình bày. Cụ N3 mất năm 2002 không để lại di chúc định đoạt tài sản, cụ T2 mất năm 2015 đã định đoạt để lại toàn bộ nhà, đất tại xã T và Cầu G, Hà Nội cho 3 con trai là ông Q, ông và ông S như lời khai của ông Q. Từ năm 1998, ông bị tai nạn giao thông, không có khả năng lao động, ông S bị bệnh bẩm sinh chân tay bị yếu không đi làm ở đâu, không có nghề nghiệp, thu nhập nên sinh hoạt hàng ngày của ông, ông S do bố mẹ chu cấp, sau khi cụ N3, cụ T2 mất, mọi sinh hoạt của ông, ông S do vợ chồng ông Q chu cấp, chăm sóc.
Ban đầu ông không thống nhất với ông Q về việc quản lý sử dụng tài sản chung với ông Q theo nội dung di chúc cụ T2 đã định đoạt ngày 24/5/2007. Sau khi vụ án được thụ lý, giải quyết và bà P yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản nhà đất tại T và Cầu G, ông nhất trí với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo di chúc của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của bà P do bà P đã được hưởng số tiền 620 triệu đồng sau khi bán nhà đất ở C.
Ông đề nghị nhận chung kỷ phần thừa kế theo di chúc với ông Q và ông S, không yêu cầu bóc tách quyền lợi, nghĩa vụ từng người cụ thể. Ngoài ra, cụ T2, cụ N3 không để lại di sản nào khác hoặc di chúc khác định đoạt tài sản cụ T2 để lại.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Nguyễn Thị Kim P trình bày:
Bố mẹ bà là cụ Nguyễn Xuân N3, mất năm 2002 và cụ Đỗ Thị T2 mất năm 2015, có 04 con chung gồm có bà là Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Các S và Nguyễn Hùng T. Ngoài ra, cụ N3, cụ T2 không có người vợ/chồng, người con nuôi/con riêng nào khác.
Cụ T2 và cụ N3 được cấp 01 gian nhà tập thể từ năm 1961 tại địa chỉ số G C, B, Hà Nội. Từ thời điểm năm 1992, bà đi xuất khẩu lao động về nên có nhiều công sức đóng góp trong việc cơi nới, cải tạo nhà ở tại số G C. Sau khi cụ N3 mất, khoảng năm 2007 gia đình bà đã bán căn hộ tập thể tại số G C được số tiền 3.500.000.000 đồng. Bà được nhận 600.000.000 đồng từ số tiền bán nhà, phần còn lại cụ T2 chi phí mua đất và xây nhà ở T, không thành viên nào trong gia đình phải đóng góp thêm. Năm 2007, cụ T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất đã mua đấu giá ở Tân triều. Cụ T2, vợ chồng ông Q, ông T và ông S cùng sinh sống tại nhà đất ở T cho đến khi cụ T2 mất, sau đó vợ chồng ông Q và 2 em trai tiếp tục sinh sống cho đến nay.
Đối với nhà đất tại ngõ E đường X, Cầu G, Hà Nội là tài sản chung của cụ T2 và 04 người là bà, ông Q, ông T và ông S do được cậu ruột bà là ông Đỗ Văn H2 tặng cho theo văn bản “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất” lập ngày 11/4/1996, không phải là tài sản chung của vợ chồng cụ T2, cụ N3. Chi phí xây dựng nhà ở tại thửa đất ông H2 tặng cho là công sức của bà do cụ T2 đã bán tài sản của bà (xe máy) để ông Q xây dựng một nhà ở mái bằng. Từ năm 1996 đến năm 2002, cụ N3 và ông Q sinh sống tại nhà đất ở Cầu G cho đến khi cụ N3 mất. Sau khi xây dựng xong nhà ở T, vợ chồng ông Q chuyển về sinh sống cùng cụ T2 và ông T, ông S.
Bà khẳng định cụ N3 và cụ T2 mất đều không để lại di chúc định đoạt tài sản. Bà không chấp nhận giá trị pháp lý của bản di chúc do nguyên đơn xuất trình với lí do tại thời điểm lập di chúc (tháng 5/2007), nhà đất tại T, T chưa được hình thành do chưa có nguồn tiền từ việc bán nhà đất tại số G C, cụ T2 chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất nên chưa thể xây dựng nhà ở tại khu Đ. Bà đề nghị Toà án chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ T2 để lại tại khu đấu giá xã T; chia tài sản chung đối với nhà, đất tại ngõ E đường X, Cầu G để bà được sở hữu sử dụng 1/5 giá trị tài sản chung, đồng thời chia thừa kế đối với 1/5 giá trị tài sản của cụ T2 tại nhà đất ở Cầu G, Hà Nội, trong đó có xem xét đến công sức đóng góp của bà như đã trình bày nêu trên. Bà yêu cầu nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật. Đồng thời bà yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với số tiền cho thuê nhà tại T và Cầu G từ năm 2008 đến năm 2023 là (2.700.000 đồng + 4.000.000 đồng) x 14 năm = 1.125.600.000 đồng.
Ngoài ra, bà được nghe cụ T2 kể lại cụ T2 còn tài sản là quyền sử dụng đất tại khu vực H, đưa tiền cho ông Q mua đất ở khu vực chùa H3, sổ tiết kiệm của cụ T2 do ông Q quản lý. Tuy nhiên, bà không có các thông tin liên quan và không có các tài liệu chứng cứ về các tài sản nêu trên.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thu H và chị Nguyễn Thị Vân A1 (vợ con ông Q) trình bày:
Bà kết hôn với Q từ năm 2003 và sinh sống tại nhà đất ở Cầu G cho đến năm 2007 thì chuyển về sống cùng mẹ chồng là cụ Đỗ Thị T2 tại T, T cho đến nay. Toàn bộ các công trình xây dựng trên thửa đất tại T và Cầu G đều do gia đình ông Q xây dựng trước khi bà kết hôn với ông Q. Bà và chị Vân A1 không có công sức đóng góp gì. Mọi sinh hoạt hàng ngày của 2 em chồng bị khuyết tật là ông T và ông S đều do vợ chồng bà lo liệu, không có sự hỗ trợ của bà P. Nay giữa ông Q yêu cầu khởi kiện vụ án yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ T2, cụ N3 để lại, bà và chị Vân A1 không có quyền hưởng di sản thừa kế nên không liên quan đến việc tranh chấp giữa ông Q và các chị em của ông Q. Bà và chị Vân A1 có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết và xét xử vụ án.
- Chị Nguyễn Thu H (người thuê nhà tại Cầu G), anh Đặng Xuân L1 (người thuê nhà tại T) trình bày: anh chị thuê nhà của ông Nguyễn Ngọc Q từ tháng 5 và tháng 8 năm 2023. Toàn bộ nhà ở đều do gia đình ông Q xây dựng từ trước, anh chị không tôn tạo gì thêm. Anh chị xác định không liên quan đến việc giải quyết tranh chấp chia thừa kế giữa các anh chị em ông Q và có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết, xét xử vụ án.
- Chị Đỗ Thị Như H1, Đỗ Thị Hồng N1 và Đỗ Thị Thúy N2 trình bày: Nhà số A ngõ E đường X, phường D, Cầu G, Hà Nội diện tích khoảng 37-38m² có nguồn gốc là tài sản của ông Đỗ Văn H2 (bố đẻ chị H1, chị N1 và chị N2). Ông H2 có vợ là Đặng Thị N4 đều đã mất và có 3 con chung là chị H1, chị N1 và chị N2. Từ năm 1994 – 1995 ông H2, bà N4 đã chuyển nhượng cho bà Đỗ Thị T2 (là chị gái của ông H2) diện tích khoảng 36-37m² đất, có lối đi dẫn vào thửa đất và có lập giấy tờ chuyển nhượng. Gia đình bà T2 đã quản lý sử dụng nhà đất liên tục từ đó đến nay, không có tranh chấp với gia đình ông H2. Hiện nay, thửa đất của gia đình ông H2 và phần chuyển nhượng cho bà T2 đều chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Chị H1, chị N1 và chị N2 không tranh chấp đối với diện tích đất ông H2 đã chuyển nhượng và khẳng định nhà đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà T2 và các con bà T2. Chị H1, chị N1 và chị N2 không có quyền, lợi ích gì từ nhà đất tại địa chỉ số E, ngõ E (nay là ngõ B) đường X, Cầu G và xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết, xét xử vụ án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ nguyên lời khai quan điểm như đã trình bày nêu trên và xác nhận tại thời điểm chuyển nhượng nhà đất tại số G, Cao Bá Q1, B, Hà Nội là sự thống nhất của cả gia đình. Cụ T2 và 04 người con đều đồng thuận ký tên vào văn bản chuyển nhượng và giao cho bà P số tiền 620.000.000 đồng trong tổng số tiền bán nhà để tạo dựng nơi ở khác, phần tiền còn lại được sử dụng toàn bộ để mua đất đấu giá, xây dựng nhà ở cho cụ T2 và 3 con trai sử dụng. Ông Q, ông T đề nghị được nhận chung kỷ phần thừa kế với ông S như nội dung di chúc ngày 24/5/2007 của cụ T2 đã định đoạt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Kim P xác nhận đồng thuận với cụ T2 và các em trai ký tên vào văn bản chuyển nhượng nhà đất tại số G C. Bà P được nhận 620.000.000 đồng là cụ T2 cho riêng bà P do bà P có nhiều công sức với gia đình. Bà P đề nghị chia tài sản chung là nhà đất ở Cầu G và chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ T2 tại nhà đất ở T và tại Cầu G, không chấp nhận nội dung di chúc do nguyên đơn xuất trình.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Q lập luận: Tài sản nhà đất tại số G C là tài sản chung của vợ chồng cụ N3, cụ T2, đã chuyển nhượng từ năm 2007 được số tiền 3.500.000.000 đồng, đã chia cho bà P số tiền 620.000.000 đồng vượt quá kỷ phần thừa kế di sản của cụ N3 nên phần tài sản còn lại là của cụ T2; nhà đất tại Cầu G do cụ T2 nhận chuyển nhượng, đã kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất (sau thời điểm cụ N3 chết) nên là tài sản của cụ T2. Tại thời điểm cụ T2 lập di chúc ngày 24/5/2007, cụ T2 đã tham gia đấu giá và trúng đấu giá QSD 143,3m², đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, sau đó được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất mang tên cụ T2. Như vậy, tài sản tại T và Cầu G là tài sản riêng của cụ T2 phù hợp với nội dung Án lệ số 24 năm 2018, di sản đã chia là tài sản cá nhân. Vì vậy, việc cụ T2 lập di chúc định đoạt toàn bộ tài sản của cụ T2 cho 3 người con trai là phù hợp với quy định của pháp luật. Nội dung và hình thức của di chúc không trái quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với số tiền cho thuê nhà theo yêu cầu của bà P được sử dụng vào chi phí sinh hoạt gia đình, sửa chữa lại nhà ở và tại thời điểm cụ T2 chết không có khoản tiền mặt nào như bà P yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà P lập luận: Kết luận giám định chữ viết tại bản di chúc và các tài liệu so sánh không kết luận rõ ràng do cùng một người viết ra là cụ T2 hay ai viết. Tại thời điểm lập di chúc, nhà đất ở xã T chưa được hình thành, các số liệu diện tích nhà đất trong di chúc không phù hợp với số liệu đo đạc thực tế. Tài sản tại T được hình thành từ việc bán tài sản chung của vợ chồng cụ T2, cụ N3 tại C, tài sản ở Cầu G là tài sản chung của cụ T2 và 4 người con do được tặng cho (không phải cụ T2 nhận chuyển nhượng do giấy chuyển nhượng có nội dụng tặng cho, không ghi giá chuyển nhượng hay việc giao nhận tiền, nguồn gốc tài sản là của bố mẹ cụ T2). Cụ T2 không có quyền định đoạt toàn bộ tài sản tại T và Cầu G. Do vậy, di chúc lập ngày 24/5/2007 không có giá trị pháp lý. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà P.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 107/2024/DS-ST ngày 12 và ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội đã xử:
I. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về chia thừa kế theo di chúc của ông Nguyễn Ngọc Q; chấp nhận 1 phần yêu cầu độc lập chia thừa kế theo pháp luật của bà Nguyễn Thị Kim P:
- Xác nhận giá trị xây dựng nhà ở, các công trình xây dựng và quyền sử dụng 143,3m² đất tại thửa đất số C18 Khu đấu giá QSD đất Thôn Y, xã T, T, Hà Nội có giá trị 17.747.299.362 đồng là tài sản chung của cụ Đỗ Thị T2, ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S.
- Xác nhận giá trị xây dựng nhà ở, các công trình xây dựng và quyền sử dụng 36,9m2 đất tại nhà số E ngõ B (ngõ E cũ) đường X, phường D, quận C, Hà Nội có giá trị 3.078.422.866 đồng là tài sản chung của vợ chồng cụ Nguyễn Xuân N3 và cụ Đỗ Thị T2.
- Chia tài sản chung của cụ T2, ông Q, ông T và ông S tại thửa đất C18 Khu đấu giá QSD đất Thôn Y, xã T, mỗi người được sở hữu, sử dụng 1/4 giá trị tài sản chung : cụ T2 được sở hữu sử dụng 4.436.824.842 đồng; ông Q, ông T và ông S, mỗi người được sở hữu sử dụng 4.436.824.840 đồng.
Chia tài sản chung vợ chồng của cụ T2, cụ N3 tại nhà đất số E ngõ B đường X, Cầu G, mỗi người được sở hữu sử dụng 1.539.211.433 đồng.
- Xác nhận cụ Nguyễn Xuân N3 chết năm 2002, không để lại di chúc định đoạt tài sản nên di sản của cụ N3 có giá trị 1.539.211.433 đồng được chia thừa kế theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm cụ Đỗ Thị T2, ông Nguyễn Ngọc Q, bà Nguyễn Thị Kim P, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S mỗi người được nhận 01 kỷ phần thừa kế. Cụ T2 được nhận kỷ phần thừa kế có giá trị 307.842.289 đồng; ông Q, ông T, bà P và ông S, mỗi người được nhận kỷ phần thừa kế có giá trị 307.842.286 đồng.
- Xác nhận cụ Đỗ Thị T2 chết năm 2015, di chúc lập ngày 24/5/2007 không hợp pháp nên di sản của cụ T2 có tổng giá trị 6.283.878.564 đồng được chia thừa kế theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm ông Nguyễn Ngọc Q, bà Nguyễn Thị Kim P, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S, mỗi người được nhận 01 kỷ phần thừa kế có giá trị 1.570.969.641 đồng.
- Sau khi chia tài sản chung, chia thừa kế theo pháp luật thì quyền sở hữu tài sản của các đương sự được xác định như sau:
- Ông Q được sở hữu tài sản có giá trị 6.315.636.767 đồng (bao gồm ¼ giá trị tài sản chung tại thửa đất C18 Khu đấu giá Tân Triều là 4.436.824.840 đồng + 307.842.286 đồng giá trị tài sản thừa kế của cụ N3 tại Cầu G + 1.570.969.641 đồng giá trị tài sản thừa kế của cụ T2);
- Ông T được sở hữu tài sản có giá trị 6.315.636.767 đồng (bao gồm ¼ giá trị tài sản chung tại thửa đất C18 Khu đấu giá Tân Triều là 4.436.824.840 đồng + 307.842.286 đồng giá trị tài sản thừa kế của cụ N3 tại Cầu G + 1.570.969.641 đồng giá trị tài sản thừa kế của cụ T2;
- Ông S được sở hữu tài sản có giá trị 6.315.636.767 đồng (bao gồm ¼ giá trị tài sản chung tại thửa đất C18 Khu đấu giá Tân Triều là 4.436.824.840 đồng + 307.842.286 đồng giá trị tài sản thừa kế của cụ N3 tại Cầu G + 1.570.969.641 đồng giá trị tài sản thừa kế của cụ T2;
- Bà P được sở hữu tài sản có giá trị 1.878.811.927đồng (bao gồm 1.570.969.641 đồng giá trị tài sản thừa kế của cụ T2 + 307.842.286 đồng giá trị tài sản thừa kế của cụ N3 tại Cầu G.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S về nhận chung kỷ phần thừa kế có tổng giá trị 18.946.910.301 đồng và chia thừa kế bằng hiện vật như sau:
- Giao ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn C Sự sở hữu, sử dụng chung nhà ở, các công trình xây dựng và quyền sử dụng 143,3m2 đất tại thửa đất C18 Khu đấu giá QSD đất Thôn Y, xã T, T, Hà Nội (đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 28/9/2007 mang tên Đỗ Thị T2);
- Giao bà Nguyễn Thị Kim P sở hữu, sử dụng nhà ở, các công trình xây dựng và quyền sử dụng 36,9m² đất tại địa chỉ số nhà E ngõ B, đường X, phường D, quận C, Hà Nội. Bà P được sử dụng 3.6m² ngõ đi chung với nhà số G đứng tên chị Đỗ Thị Như H1.
Ranh giới thửa đất và ngõ đi chung giao cho bà P được xác định theo hồ sơ trích đo địa chính thửa đất do Công ty Cổ phần T6 lập ngày 16/5/2024 được đính kèm bản án.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
- Bà P có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S chênh lệch giá trị tài sản là 1.199.610.939 đồng.
II. Không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với số tiền 1.125.600.000 đồng cho thuê nhà từ năm 2008 đến năm 2023 của bà Nguyễn Thị Kim P đối với ông Nguyễn Ngọc Q.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo, thi hành án của các đương sự.
Không đồng ý với bản án dân sự sơ thẩm, nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc Q: kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 107/2024/DS-ST ngày 12 và 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội với lý do Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông về việc chia thừa kế theo di chúc và chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Kim P là không đúng quy định của pháp luật, không đúng sự thật khách quan của vụ án, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Ông Q đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm: Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông trong vụ án nêu trên và bác toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Kim P.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự thống nhất được thời điểm mở thừa kế; hàng thừa kế, không thống nhất về di sản; không xuất trình chứng cứ mới, không thỏa thuận với nhau được cách giải quyết vụ án.
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan có yêu cầu độc lập giữ nguyên yêu cầu độc lập.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày luận cứ và đề nghị Toà phúc thẩm công nhận tính hợp pháp của di chúc, công nhận hiệu lực một phần của di chúc và chia thừa kế như sau:
- Ông Q, ông T, ông S được hưởng toàn bộ giá trị nhà đất tại T; giao 03 ông cùng quản lý, sử dụng chung.
- Thanh toán phần công sức đóng góp của vợ chồng ông Q trong giá trị nhà tại Cầu G với số tiền 84.172.366 đồng.
- Ông Q, ông T, ông S, bà P mỗi người được hưởng 299.425.050 đồng từ di sản của cụ N3 tại nhà đất ở Cầu G.
- Ông Q, ông T, ông S được hưởng toàn bộ di sản của cụ T2 để lại tại nhà đất ở Cầu G, tương ứng số tiền 1.796.550.300 đồng.
- Giao ông Q, ông T, ông S được quản lý sử dụng nhà đất ở Cầu G để mỗi người có một nhà ở, vì bà P trước đó đã được chia tiền để mua chỗ ở mới, sinh sống ổn định. 03 ông Q, T, S có trách nhiệm thanh toán cho bà P số tiền 299.425.050 đồng (kỷ phần thừa kế bà P được hưởng từ cụ N3).
- Bác các yêu cầu độc lập của bà P.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trình bày luận cứ và đề nghị HĐXX bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa 1 phần bản án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà P:
- Chia thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản thừa kế do cụ N3 và cụ T2 để lại tại C18, Khu đấu giá đất T, T, Hà Nội và tại số A, ngõ E nay là số E, ngõ B, đường X, Cầu G, Hà Nội cùng toàn bộ hoa lợi là tiền thuê nhà phát sinh từ năm 2008 đến nay.
- Chia tài sản chung trong khối tài sản chung hợp nhất trên cơ sở được tặng cho nhà số A, ngõ E (nay là số E, ngõ B), đường X, Cầu G, Hà Nội.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 107/2024/DS-ST ngày 12 và ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ kiện, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Ông Nguyễn Ngọc Q kháng cáo đúng thời hạn và đã nộp tạm ứng án phí theo quy định, nên hợp lệ về mặt hình thức.
- Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Nguyễn Xuân N3 chết năm 2002, cụ Đỗ Thị T2 chết năm 2015. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 688; khoản 1 Điều 623; Điều 611 của Bộ luật dân sự 2015, vụ việc vẫn trong thời hiệu khởi kiện.
- Về sự có mặt, vắng mặt tại phiên tòa: Có mặt nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc Q và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Q; người có quyền và nghĩa vụ có liên quan có yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị Kim P và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà P; người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan bà Nguyễn Thu H. Bị đơn ông Nguyễn Hùng T có đơn xin xét xử vắng mặt. Một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện cũng như yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:
[2.1]. Về di sản thừa kế:
* Nhà ở và quyền sử dụng đất tại xã T: Theo lời khai xác nhận của các bên đương sự, cụ Nguyễn Xuân N3 và cụ Đỗ Thị T2 được sở hữu, sử dụng nhà tập thể tại địa chỉ số G, Cao Bá Q1, Hà Nội do được chia theo tiêu chuẩn của cụ N3 từ những năm 1961. Sau khi cụ N3 mất, năm 2007, gia đình cụ T2 đã chuyển nhượng nhà đất tập thể tại số G, Cao Bá Q1 được 3.500.000.000 đồng, trong đó chia cho bà P 620.000.000 đồng, số tiền còn lại mua 143,3m² đất đấu giá tại xã T và xây dựng nhà ở 3 tầng như hiện trạng hiện nay. Ngày 28/9/2007, cụ T2 đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với diện tích 143,3m² đất đấu giá và cùng các con trai là ông Q, ông T và ông S quản lý sử dụng nhà đất này. Quá trình giải quyết vụ án, bà P chỉ xác nhận được chia 600.000.000 đồng từ số tiền bán nhà tập thể tại số G C.
Hội đồng xét xử xét thấy, các đương sự xác nhận nhà đất tại số G Cao Bá quát là tài sản chung của vợ chồng cụ N3 và cụ T2. Năm 2002 cụ N3 chết, quyền sở hữu nhà ở số G C thuộc quyền sở hữu chung của cụ T2 và các con là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất di sản của cụ N3. Tại phiên tòa, các đương sự xác nhận, năm 2007, cụ T2 và các con cùng ký tên vào văn bản chuyển nhượng nhà tập thể tại số G C. Số tiền chuyển nhượng nhà đất được 3.500.000.000 đồng. Tuy nhiên các đương sự không thống nhất được việc chia tiền bán nhà: Theo nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan khẳng định đã chia cho bà P 620.000.000đồng (chiếm gần 1/5 giá trị chuyển nhượng nhà đất), giá trị còn lại là 2.880.000.000 đồng cụ T2 sử dụng để mua 143,3m² đất đấu giá và xây dựng nhà ở 3 tầng tại thửa đất C18 Khu đấu giá QSD đất T, T, Hà Nội để cụ T2 và 3 con trai là ông Q, ông T và ông S cùng quản lý, sử dụng.
Bà P cho rằng do bà có công sức đóng góp nhiều nên mẹ bà mới cho bà 600.000.000 đồng chứ không liên quan đến việc chia kỷ phần thừa kế.
Qua xem xét tài liệu có trong hồ sơ nhận thấy: tại Giấy biên nhận đề ngày 09/6/2007 thể hiện bà P đã nhận 620.000.000 đồng tiền bán nhà số G C và không có thắc mắc kiện cáo gì. Đồng thời, tại phiên toà phúc thẩm bà P cũng khai đã dùng số tiền này đi mua nhà ở riêng, không cùng về sống với mẹ con cụ T2 tại T hay Cầu G, điều này cũng phù hợp với di chúc cụ T2 để lại.
Như vậy, khẳng định việc chuyển nhượng nhà đất tại số G C, chia tài sản chuyển nhượng là thỏa thuận chia tài sản chung của cụ T2 và các con. Bà P đã nhận giá trị tài sản chuyển nhượng chiếm gần 1/5 giá trị tài sản nên giá trị xây dựng nhà ở và quyền sử dụng 143,3m² tại địa chỉ C18 khu đấu giá QSD đất T đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất mang tên cụ T2 là tài sản chung của cụ T2, ông Q, ông T và ông S.
* Đối với nhà đất tại nhà số A, ngõ E (nay là số E, ngõ B), đường X, quận C: Theo lời khai của bà P, nhà đất tại địa chỉ đường X, Cầu G là tài sản chung của cụ T2 và 04 người con của cụ T2 là bà P, ông Q, ông T và ông S do được em trai cụ T2 là ông Đỗ Văn H2 tặng cho; Theo lời khai của ông Q nhà đất tại Cầu G là do cụ T2 nhận chuyển nhượng của em trai là Đỗ Văn H2 từ nguồn tiền bán nhà tập thể tại Khu tập thể T, văn bản chuyển nhượng có nội dung cho chị và các cháu để được miễn thuế chuyển nhượng. Từ năm 1996, gia đình cụ T2 đã xây dựng nhà ở và quản lý sử dụng nhà đất tại địa chỉ đường X, Cầu G cho đến nay.
Hội đồng xét xử xét thấy: Các bên đương sự không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh việc thanh toán tiền nhận chuyển nhượng diện tích 36m² đất từ ông Đỗ Văn H2 và bà Đặng Thị N4. Vợ chồng ông H2 và bà N4 đều đã chết, các con ông H2 là chị Đỗ Thị Như H1, chị Đỗ Thị Hồng N1 và chị Đỗ Thị Thúy N2 không tham gia việc chuyển nhượng giữa ông H2 và cụ T2. Bà P có lời khai không thống nhất về việc chuyển nhượng/tặng cho 36m² đất này, cụ thể: tại biên bản làm việc ngày 01/12/2023, bà P khai cụ T2 mua 36m² đất của cậu ruột với giá 8 - 9 cây vàng, tại phiên hòa giải 15/8/2024, bà P khai nghe ông H2 nói ông H2 cho bà T2 và các cháu ở cho đỡ chật chội, bà P không biết cụ T2 có phải thanh toán tiền đất cho ông H2 hay không. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ công nhận lời khai của bà P về việc xác định nhà đất tại Cầu G là tài sản chung của cụ T2 và 04 người con do được tặng cho theo "Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất" lập ngày 11/4/1996 giữa cụ T2 và em trai là Đỗ Văn H2.
Theo lời khai xác nhận của các đương sự, từ năm 1996, gia đình cụ T2 đã xây dựng nhà ở trên diện tích đất tại ngõ E đường X, Cầu G và cụ N3 cùng ông Q sinh sống tại nhà đất này từ năm 1996 cho đến khi cụ N3 mất, ông Q tiếp tục quản lý nhà đất cho đến năm 2007 mới chuyển về sống cùng cụ T2 tại nhà đất tại xã T. Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Đỗ Văn H2, bà Đặng Thị N4 (bên chuyển nhượng đất cho cụ T2) là chị H1, chị N1 và chị N2 xác nhận việc gia đình cụ T2 nhận chuyển nhượng 36m² đất từ ông H2, đã quản lý sử dụng ổn định từ năm 1996 đến nay, chị H1, chị N1 và chị N2 không tranh chấp đối với diện tích đất này và đề nghị Tòa án xác định đây là tài sản của gia đình cụ T2.
Theo giấy xác nhận đăng ký đất đai số 239/GXN-VPĐKĐ ngày 20/6/2017 do Văn phòng Đăng ký đất đai quận C cung cấp: Cụ Đỗ Thị T2 đăng ký đối với thửa đất tại địa chỉ: Ngõ E, đường X, phường D, quận C, Hà Nội, diện tích 37.2m² (đo đạc thực tế 36,9m² và 3,6m² ngõ đi chung), mục đích sử dụng đất ở, thời hạn sử dụng lâu dài ; Nội dung xác nhận của phường D: nội dung kê khai phù hợp với hiện trạng, nguồn gốc sử dụng: đất có nguồn gốc thổ cư. Bản đồ đo năm 1987, tờ bản đồ số 3 (thị trấn C) thuộc thửa 104/193, chủ sử dụng Đỗ Văn H2, loại đất thổ cư; Diện tích đăng ký đất đai lần đầu 37.2m²; thời điểm sử dụng đất vào mục đích đăng ký: năm 1985, thời điểm tạo lập tài sản gắn liền với đất: năm 1985; Tình trạng tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất: không tranh chấp; sự phù hợp với QHSD đất, quy hoạch xây dựng: phù hợp.
Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định, nhà ở và diện tích 36,9m² đất (đo đạc thực tế) và 3,6m² ngõ đi chung tại địa chỉ: Số E ngõ B (số A, ngõ E cũ) đường X, Cầu G, Hà Nội là tài sản chung của vợ chồng cụ T2 và cụ N3.
[2.2]. Xét di chúc lập ngày 24/5/2007 của cụ Đỗ Thị T2.
Di chúc được cụ Đỗ Thị T2 lập ngày 24/5/2007 tại Trung tâm T5 có địa chỉ tại G N, Hà Nội. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã làm việc với 02 người làm chứng ký tên tại bản di chúc là ông Nguyễn Mạnh T3-Giám đốc trung tâm T5 và bà Lương Thị K, những người làm chứng đều xác nhận nội dung di chúc do nguyên đơn xuất trình hoàn toàn phù hợp với diễn biến lập, quản lý di chúc của cụ T2 tại Trung tâm T5. Đến nay, Trung tâm tư vấn luật Thành Đ không còn hoạt động và các bản di chúc được lập đều do người lập di chúc quản lý.
Theo lời khai quan điểm của bà P, bà P không công nhận giá trị pháp lý của bản di chúc với lý do tại thời điểm lập di chúc, gia đình cụ T2 chưa chuyển nhượng nhà đất tại số G C nên chưa hình thành nhà đất tại T, T, Hà Nội và bà P cũng chưa được nhận số tiền 600.000.000 đồng như nội dung di chúc thể hiện.
Theo quan điểm của ông Q: Tại thời điểm lập di chúc, cụ T2 đã trúng đấu giá thửa đất số C18 Khu đấu giá QSD đất Tân Triều và đang tiến hành xây dựng nhà ở nên việc cụ T2 định đoạt tài sản là hoàn toàn có căn cứ.
Theo kết luận giám định số 106/KL-KTHS, ngày 26/7/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, chữ viết và chữ ký T2 – Đỗ Thị T2 tại bản di chúc và chữ viết, chữ ký tại mẫu so sánh gồm Đơn đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất, biên bản bàn giao đất trúng đấu giá, hồ sơ kỹ thuật thửa đất phục vụ xác định diện tích theo phương án chia lô (các tài liệu này đều được xác lập năm 2007) đã kết luận cùng một người viết và ký tên.
Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về hình thức của di chúc: Di chúc lập ngày 24/5/2007 được lập thành văn bản, được đánh máy, có chữ ký của cụ T2 (người lập di chúc) và chữ ký của 02 người làm chứng. Đối chiếu với quy định tại Điều 565 Bộ luật dân sự 2005 quy định “... Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc...”. Mặc dù, tại phần ký tên người làm chứng, người làm chứng không xác nhận chữ ký của cụ T2. Tuy nhiên, theo lời khai xác nhận của 02 người làm chứng là ông Nguyễn Mạnh T3-Giám đốc Trung tâm T5 và bà Lương Thị K-Trưởng phòng pháp chế Trung tâm, cụ T2 trực tiếp ký tên vào bản di chúc, sau đó 02 người làm chứng ký tên. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định di chúc của cụ T2 lập ngày 24/5/2007 đã tuân thủ về hình thức của di chúc theo quy định tại Điều 656 Bộ luật dân sự.
- Về nội dung di chúc: Cụ T2 định đoạt "...một ngôi nhà diện tích 38m² tại địa chỉ: Số nhà A ngõ E, đường X, quận C, TP Hà Nội; và một ngôi nhà có diện tích mặt bằng là 143m² (Một trăm bốn mươi ba mét vuông) tại địa chỉ: Xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Đây là tài sản riêng của tôi do tôi tạo dựng được, thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của tôi.
... cho các con trai của tôi là Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1966, Nguyễn Các S, sinh năm 1968 và Nguyễn Hùng T, sinh năm 1974 có toàn quyền quản lý, sở hữu, sử dụng 02 ngôi nhà tại địa chỉ trên. Riêng con gái là Nguyễn Kim P, sinh năm 1962, đã được tôi cho số tiền là: 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) để tạo dựng một nơi ở khác. Con gái tôi không có bất cứ quyền lợi gì đối với 02 ngôi nhà mà tôi đã để lại cho 03 người con trai của tôi...".
Nhận thấy, theo tài liệu do Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T cung cấp thì ngày 18/5/2007 UBND huyện T đã có phê duyệt kết quả phiên đấu giá quyền sử dụng đất Khu nhà ở tại xã T, T, Hà Nội Quyết định số 1224/QĐ-UB theo quyết định xác nhận cụ Đỗ Thị T2, địa chỉ số G, Cao Bá Q1, B, Hà Nội trúng lô đất 18 diện tích 143,3m² tại địa chỉ trên. Cùng ngày Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất đã bàn giao diện tích đất trên cho cụ T2. Ngày 24/5/2007 cụ T2 viết di chúc định đoạt tài sản trên. Ngày 28/9/2007 cụ T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xét mặc dù ông Q, ông T4 ông S đều xác định nhà tại T là của riêng cụ T2 vì cụ T2 đã bán tài sản chung của cụ T2 và cụ N3 tại Cao Bá Q1 và đã chia cho bà P trị giá là 1/5 giá trị di sản. Bà P cũng cho rằng bà chưa được chia di sản là trị giá căn nhà tại C.
Tuy nhiên, theo phân tích tại mục [2.1] nêu trên, Hội đồng xét xử xác định nhà ở 3 tầng và quyền sử dụng 143,3m² đất tại C18 Khu đấu giá QSD đất T, T, Hà Nội đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất mang tên cụ T2 là tài sản chung của cụ T2, ông Q, ông T và ông S; tài sản tại địa chỉ ngõ E, đường X, Cầu G là tài sản chung vợ chồng của cụ T2, cụ N3 nên việc cụ T2 định đoạt toàn bộ tài sản của các đồng sở hữu chung và phần di sản thừa kế của cụ N3 là không có căn cứ mà chỉ xác định di chúc lập ngày 24/5/2007 có hiệu lực một phần đối với phần tài sản của cụ T2 là 1/4 giá trị 143,3m² đất tại C18 Khu đấu giá QSD đất T, T, Hà Nội có giá trị là 4.436.824.842 đồng (Bốn tỷ, bốn trăm ba mươi sáu triệu, tám trăm hai mươi tư nghìn, tám trăm bốn mươi hai đồng).
Tại các lời khai của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan đều xác nhận tài sản trên của ông Q, ông T, ông S đều xác nhận nhà đất tại T là tài sản chung của các ông và cụ T2, cũng không đề nghị tách. Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị này phù hợp với pháp luật nên chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế theo di chúc của ông Q đối với di sản của cụ T2 là 1/4 đối với 143,3m² đất tại C18 Khu đấu giá QSD đất T, T, Hà Nội có giá trị là 4.436.824.842 đồng (Bốn tỷ, bốn trăm ba mươi sáu triệu, tám trăm hai mươi tư nghìn, tám trăm bốn mươi hai đồng).
[3]. Xét yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật đối với các tài sản là nhà đất và tiền thuê nhà.
Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1]. Đối với nhà, đất có diện tích 143,3m² tại C18 Khu đấu giá QSD đất T, T, Hà Nội.
- Theo phân tích tại mục [2.1] nêu trên, nhà ở 3 tầng và quyền sử dụng diện tích 143,3m² tại thửa đất số C18 Khu đấu giá QSD đất xã T, T, Hà Nội là tài sản chung của của cụ T2, ông Q, ông T và ông S và mỗi người có quyền sở hữu 1/4 giá trị tài sản. Theo Biên bản định giá tài sản, được các bên đương sự xác nhận tại phiên tòa, giá trị nhà ở và giá trị quyền sử dụng 143,3m² đất tại thửa đất C18 khu đấu giá QSD đất xã T là 17.747.299.362 đồng (Mười bảy tỷ, bảy trăm bốn mươi bảy triệu, hai trăm chín mươi chín nghìn, ba trăm sáu mươi hai đồng) là tài sản chung của cụ T2, ông T, ông Q và ông S. Cụ T2, ông T, ông Q và ông S, mỗi người được sở hữu, sử dụng 1/4 tài sản chung có giá trị là 4.436.824.840 đồng (Bốn tỷ, bốn trăm ba mươi sáu triệu, tám trăm hai mươi tư nghìn, tám trăm bốn mươi đồng). Như đã phân tích trên Di chúc của cụ T2 có hiệu lực một phần nên yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo di chúc của ông Q được chấp nhận đối với phần nhà đất cụ T2 tại T.
Vì vậy, không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà P về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản nói trên.
[3.2]. Đối với yêu cầu chi di sản thừa kế theo pháp luật là nhà ở và giá trị quyền sử dụng 36,9m² đất (đo đạc thực tế) và 3,6m² ngõ đi chung tại nhà số A, ngõ E (nay là số E, ngõ B) đường X, quận C, Hà Nội là tài sản chung vợ chồng của cụ T2 và cụ N3, mỗi người được sở hữu sử dụng 1/2 giá trị tài sản chung theo quy định tại Điều 217, Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình. Di sản của cụ T2 trong khối tài sản chung tại thửa đất C18 khu đấu giá QSD đất và di sản của cụ T2, cụ N3 tại Cầu G, Hà Nội được chia thừa kế theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
Bà P cũng như ông Q đều đề nghị xem xét công sức đóng góp vào khối tài sản trên. Tuy nhiên, các bên không thừa nhận công sức đóng góp của nhau cũng như không có tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ xem xét.
Theo xác nhận của các bên đương sự, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất di sản của cụ N3 với thời điểm mở thừa kế năm 2002 gồm cụ Đỗ Thị T2 (vợ cụ N3), bà Nguyễn Thị Kim P, ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S (các con chung của cụ T2, cụ N3) nên mỗi người được nhận 01 kỷ phần thừa kế; Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất di sản của cụ T2 với thời điểm mở thừa kế năm 2015 là bà Nguyễn Thị Kim P, ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S nên mỗi người được nhận 01 kỷ phần thừa kế.
Theo chứng thư thẩm định giá do Công ty cổ phần T7 cung cấp, giá trị nhà ở và quyền sử dụng 36,9m² đất tại địa chỉ số A, ngõ E (nay là số E, ngõ B), đường X, Cầu G, Hà Nội có giá trị 3.078.422.866 đồng (Ba tỷ, không trăm bảy mươi tám triệu, bốn trăm hai mươi hai nghìn, tám trăm sáu mươi sáu đồng). Cụ T2 và cụ N3 mỗi người được sở hữu sử dụng 1/2 giá trị tài sản chung là 1.539.211.433 đồng (Một tỷ, năm trăm ba mươi chín triệu, hai trăm mười một nghìn, bốn trăm ba mươi ba đồng).
Di sản của cụ N3 có giá trị 1.539.211.433 đồng được chia cho 5 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là cụ T2, bà P, ông T, ông Q và ông S, trong đó bà P, ông Q, ông T và ông S được sở hữu giá trị tài sản thừa kế là 307.842.286 đồng (Ba trăm linh bảy triệu, tám trăm bốn mươi hai nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng), cụ T2 được sở hữu tài sản thừa kế có giá trị 307.842.286 đồng (Ba trăm linh bảy triệu, tám trăm bốn mươi hai nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng).
Tổng di sản của cụ T2 có tổng giá trị là 1/2 giá trị tài sản chung vợ chồng 1.539.211.433 đồng và 307.842.286 đồng di sản thừa kế của cụ N3 tại số E ngõ B đường X, Cầu G) là 1.847.053.719 đồng và 1/4 giá trị 143,3m² nhà đất tại C18 Khu đấu giá QSD đất T, T, Hà Nội có giá trị là 4.436.824.840 đồng = 6.283.878.559 đồng (Sáu tỷ, hai trăm tám mươi ba triệu, tám trăm bảy mươi tám nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng).
Theo di chúc của cụ T2 số tiền này sẽ chia đều cho ông S, ông Q, ông T4 là 6.283.878.559 đồng : 3 = 2.094.626.186 đồng (Hai tỷ, không trăm chín mươi tư triệu, sáu trăm hai mươi sáu nghìn, một trăm tám mươi sáu đồng).
Sau khi được chia tài sản chung tại thửa đất C18 Khu đấu giá QSD đất Tân Triều, chia thừa kế di sản của cụ T2, cụ N3, quyền sở hữu tài sản chung và tài sản thừa kế của các đương sự được xác định như sau:
- Ông Q được sở hữu 1/4 giá trị tài sản chung tại thửa đất C18 Khu đấu giá QSD đất Tân Triều là là 4.436.824.840 đồng + 307.842.286 đồng (giá trị tài sản thừa kế của cụ N3 tại Cầu G) + 2.094.626.186 đồng (giá trị tài sản thừa kế của cụ T2) = 6.839.293.312 đồng (Sáu tỷ, tám trăm ba mươi chín triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, ba trăm mười hai đồng);
- Ông T được sở hữu 1/4 giá trị tài sản chung tại thửa đất C18 Khu đấu giá QSD đất Tân Triều là 4.436.824.840 đồng + 307.842.286 đồng (giá trị tài sản thừa kế của cụ N3 tại Cầu G) + 2.094.626.186 đồng (giá trị tài sản thừa kế của cụ T2) = 6.839.293.312 đồng (Sáu tỷ, tám trăm ba mươi chín triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, ba trăm mười hai đồng);
- Ông S được sở hữu 1/4 giá trị tài sản chung tại thửa đất C18 Khu đấu giá QSD đất Tân Triều là là 4.436.824.840 đồng + 307.842.286 đồng (giá trị tài sản thừa kế của cụ N3 tại Cầu G) + 2.094.626.186 đồng (giá trị tài sản thừa kế của cụ T2) = 6.839.293.312 đồng (Sáu tỷ, tám trăm ba mươi chín triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, ba trăm mười hai đồng);
Bà P được sở hữu 307.842.286 đồng (Ba trăm linh bảy triệu, tám trăm bốn mươi hai nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng) (giá trị tài sản thừa kế của cụ N3 tại Cầu G).
Quá trình giải quyết vụ án, ông Q, ông T và ông S có đề nghị được nhận di sản bằng hiện vật và gộp chung kỷ phần thừa kế di sản của cụ T2, cụ N3 thành một khối.
Sau khi xem xét hiện trạng tài sản, nhu cầu sử dụng nhà đất và đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của các đương sự phù hợp với pháp luật ghi nhận sự thỏa thuận của ông T, ông Q và ông S gộp chung kỷ phần thừa kế có tổng giá trị là: 20.517.879.936 đồng (Hai mươi tỷ, năm trăm mười bảy triệu, tám trăm bảy mươi chín nghìn, chín trăm ba mươi sáu đồng).
* Chia hiện vật như sau:
Giao ông Q, ông T và ông S sở hữu, sử dụng chung nhà ở, các công trình xây dựng và diện tích 143,3m² đất thuộc thửa C18 Khu đấu giá quyền sử dụng đất xã T, huyện T, Hà Nội có tổng giá trị 17.747.299.362 đồng (Mười bảy tỷ, bảy trăm bốn mươi bảy triệu, hai trăm chín mươi chín nghìn, ba trăm sáu mươi hai đồng). Ông Q, ông T và ông S sở hữu, sử dụng nhà ở các công trình xây dựng và diện tích 36,9m² đất (có 3,6m² ngõ đi chung) tại số A, ngõ E (nay là số E, ngõ B), đường X, phường D, quận C, Hà Nội có giá trị 307.842.286 đồng (Ba trăm linh bảy triệu, tám trăm bốn mươi hai nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng).
- Ông T, ông Q và ông S có trách nhiệm thanh toán cho bà P mỗi người là 102.614.095 đồng (Một trăm linh hai triệu, sáu trăm mười bốn nghìn, không trăm chín mươi lăm đồng).
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đăng ký biến động, kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật.
[3.3]. Không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với số tiền 1.125.600.000 đồng (Một tỷ, một trăm hai mươi lăm triệu, sáu trăm nghìn đồng) cho thuê nhà từ năm 2008 đến năm 2023 của bà Nguyễn Thị Kim P đối với ông Nguyễn Ngọc Q.
Từ phân tích trên chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc Q và sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện T theo hướng phân tích trên.
Các ý kiến khác của các đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự không có căn cứ nên không chấp nhận.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[4] Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Miễn án phí cho bà Nguyễn Thị Kim P, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S do thuộc đối tượng người cao tuổi và người khuyết tật.
Ông Nguyễn Ngọc Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nhưng cấp sơ thẩm không trừ vào tạm ứng án phí ông Q đã nộp nên cần chấp nhận kháng cáo này của ông Q.
- Án phí phúc thẩm: Bản án dân sự sơ thẩm bị sửa nên đương sự được hoàn trả án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 634; 656; 659; 657 Bộ luật dân sự 1995; Điều 217, 219, 565, 676 Bộ luật dân sự 2005; Điều khoản 2 Điều 357, Điều 468, Điều 609, 611, 612, 623, 649, 650, 651, 660, 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 167, Điều 202, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai; Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc Q.
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 107/2024/DS-ST ngày 12 và ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
* Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về chia thừa kế theo di chúc của ông Nguyễn Ngọc Q;
Xác định Di chúc lập ngày 24/5/2007 của cụ Đỗ Thị T2 hợp pháp một phần.
* Chấp nhận 1 phần yêu cầu độc lập chia thừa kế theo pháp luật của bà Nguyễn Thị Kim P.
Cụ thể:
- Xác nhận giá trị xây dựng nhà ở, các công trình xây dựng và quyền sử dụng 143,3m² đất tại thửa đất số C18 Khu đấu giá QSD đất thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội có giá trị 17.747.299.362 đồng (Mười bảy tỷ, bảy trăm bốn mươi bảy triệu, hai trăm chín mươi chín nghìn, ba trăm sáu mươi hai đồng) là tài sản chung của cụ Đỗ Thị T2, ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S.
- Xác nhận giá trị xây dựng nhà ở, các công trình xây dựng và quyền sử dụng 36,9m² đất tại nhà số A, ngõ E (nay là số E, ngõ B), đường X, phường D, quận C, thành phố Hà Nội có giá trị 3.078.422.866 đồng (Ba tỷ, không trăm bảy mươi tám triệu, bốn trăm hai mươi hai nghìn, tám trăm sáu mươi sáu đồng) là tài sản chung của vợ chồng cụ Nguyễn Xuân N3 và cụ Đỗ Thị T2.
Cụ T2 và cụ N3 mỗi người được sở hữu sử dụng 1/2 giá trị tài sản chung là 1.539.211.433 đồng (Một tỷ, năm trăm ba mươi chín triệu, hai trăm mười một nghìn, bốn trăm ba mươi ba đồng).
- Chia tài sản chung của cụ Đỗ Thị T2, ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S tại thửa đất C18 Khu đấu giá QSD đất thôn Y, xã T, mỗi người được sở hữu, sử dụng 1/4 giá trị tài sản chung là 4.436.824.840 đồng (Bốn tỷ, bốn trăm ba mươi sáu triệu, tám trăm hai mươi tư nghìn, tám trăm bốn mươi đồng).
- Xác nhận cụ Nguyễn Xuân N3 chết năm 2002, không để lại di chúc định đoạt tài sản nên di sản của cụ N3 có giá trị 1.539.211.433 đồng (Một tỷ, năm trăm ba mươi chín triệu, hai trăm mười một nghìn, bốn trăm ba mươi ba đồng) được chia thừa kế theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm cụ Đỗ Thị T2, ông Nguyễn Ngọc Q, bà Nguyễn Thị Kim P, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S mỗi người được nhận 01 kỷ phần thừa kế.
Cụ T2 được nhận kỷ phần thừa kế có giá trị 307.842.286 đồng (Ba trăm linh bảy triệu, tám trăm bốn mươi hai nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng); ông Q, ông T, bà P và ông S, mỗi người được nhận kỷ phần thừa kế có giá trị 307.842.286 đồng (Ba trăm linh bảy triệu, tám trăm bốn mươi hai nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng).
- Xác nhận cụ Đỗ Thị T2 chết năm 2015, di chúc lập ngày 24/5/2007 hợp pháp một phần nên di sản của cụ T2 có tổng giá trị 6.283.878.559 đồng (Sáu tỷ, hai trăm tám mươi ba triệu, tám trăm bảy mươi tám nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng) được chia thừa kế theo di chúc cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo di chúc gồm ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S, mỗi người được nhận 01 kỷ phần thừa kế có giá trị 2.094.626.186 đồng (Hai tỷ, không trăm chín mươi tư triệu, sáu trăm hai mươi sáu nghìn, một trăm tám mươi sáu đồng).
- Sau khi chia tài sản chung, chia thừa kế theo pháp luật thì quyền sở hữu tài sản của các đương sự được xác định như sau:
- Ông Q được sở hữu 1/4 giá trị tài sản chung tại thửa đất C18 Khu đấu giá QSD đất Tân Triều là là 4.436.824.840 đồng + 307.842.286 đồng (giá trị tài sản thừa kế của cụ N3 tại Cầu G) + 2.094.626.186 đồng (giá trị tài sản thừa kế của cụ T2) = 6.839.293.312 đồng (Sáu tỷ, tám trăm ba mươi chín triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, ba trăm mười hai đồng);
- Ông T được sở hữu 1/4 giá trị tài sản chung tại thửa đất C18 Khu đấu giá QSD đất Tân Triều là 4.436.824.840 đồng + 307.842.286 đồng (giá trị tài sản thừa kế của cụ N3 tại Cầu G) + 2.094.626.186 đồng (giá trị tài sản thừa kế của cụ T2) = 6.839.293.312 đồng (Sáu tỷ, tám trăm ba mươi chín triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, ba trăm mười hai đồng);
- Ông S được sở hữu 1/4 giá trị tài sản chung tại thửa đất C18 Khu đấu giá QSD đất Tân Triều là là 4.436.824.840 đồng + 307.842.286 đồng (giá trị tài sản thừa kế của cụ N3 tại Cầu G) + 2.094.626.186 đồng (giá trị tài sản thừa kế của cụ T2) = 6.839.293.312 đồng (Sáu tỷ, tám trăm ba mươi chín triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, ba trăm mười hai đồng);
Bà P được sở hữu 307.842.286 đồng (Ba trăm linh bảy triệu, tám trăm bốn mươi hai nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng) (giá trị tài sản thừa kế của cụ N3 tại Cầu G).
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S về nhận chung kỷ phần thừa kế thành một khối có tổng giá trị 20.517.879.936 đồng (Hai mươi tỷ, năm trăm mười bảy triệu, tám trăm bảy mươi chín nghìn, chín trăm ba mươi sáu đồng) và chia thừa kế bằng hiện vật chung như sau:
- Giao ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn C Sự sở hữu, sử dụng chung nhà ở, các công trình xây dựng và quyền sử dụng 143,3m² đất tại thửa đất C18 Khu đấu giá QSD đất thôn Y, xã T, T, Hà Nội (đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 28/9/2007 mang tên Đỗ Thị T2);
- Giao ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn C Sự sở hữu, sử dụng nhà ở, các công trình xây dựng và quyền sử dụng 36,9m² đất tại địa chỉ số A, ngõ E (nay là số E, ngõ B), đường X, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Ông Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S được sử dụng 3.6m² ngõ đi chung với nhà số G đứng tên chị Đỗ Thị Như H1.
Ranh giới thửa đất và ngõ đi chung giao cho Nguyễn Ngọc Q, ông Nguyễn Hùng T và ông Nguyễn Các S được xác định theo hồ sơ trích đo địa chính thửa đất do Công ty Cổ phần T6 lập ngày 16/5/2024 được đính kèm bản án.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đăng ký biến động, kê khai xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật.
* Không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với số tiền 1.125.600.000 đồng (Một tỷ, một trăm hai mươi lăm triệu, sáu trăm nghìn đồng) cho thuê nhà từ năm 2008 đến năm 2023 của bà Nguyễn Thị Kim P đối với ông Nguyễn Ngọc Q.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án khoản tiền trên mà người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Hùng T, bà Nguyễn Thị Kim P và ông Nguyễn Các S được miễn án phí dân sự theo quy định.
- Ông Nguyễn Ngọc Q phải chịu 114.839.293 đồng (Một trăm mười bốn triệu, tám trăm ba mươi chín nghìn, hai trăm chín mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch được trừ vào số tiền 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) ông Q đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0063998 ngày 19/10/2023 tại Chi cục Thi hành án huyện T, thành phố Hà Nội. Ông Q còn phải nộp số tiền 93.839.293 đồng (Chín mươi ba triệu, tám trăm ba mươi chín nghìn, hai trăm chín mươi ba đồng).
- Án phí phúc thẩm:
Hoàn trả cho ông Nguyễn Ngọc Q số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0007468 ngày 01/10/2024 tại Chi cục Thi hành án huyện T, thành phố Hà Nội.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Anh |
Bản án số 198/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp chia thừa kế
- Số bản án: 198/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp chia thừa kế giữa nguyên đơn là Nguyễn Ngọc Q và bị đơn là ông Nguyễn Tiến H
