|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 198/2024/HNGĐ-ST Ngày 26-9-2024 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
|
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: |
|
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đặng Thị Hồng Thủy |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Xuân Vinh |
| Ông Đặng Trần Khoa | |
|
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. |
|
|
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Lựu – Kiểm sát viên. |
|
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 882/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2024/HPT-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm: 1977
Địa chỉ: Tổ 14 T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm: 1978
Địa chỉ: Tổ 14 T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 27/6/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Tấn L kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, vợ chồng bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N vào năm 1998. Quá trình chung sống với nhau không hạnh phúc vì ông L thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn rồi về đánh đập vợ con dẫn đến mâu thuẫn kéo dài đến mức không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà và ông Nguyễn Tấn L có một con chung là Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày: 20/6/1999. Cháu Đ đã trưởng thành, khỏe mạnh nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do; do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai của bị đơn cũng như không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Bích T được ly hôn ông Nguyễn Tấn L. Con chung đã trưởng thành, bà T không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung, bà T không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về án phí, bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Bích T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về việc ly hôn với ông Nguyễn Tấn L. Ông L có địa chỉ cư trú tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Tấn L đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Bích T và ông Nguyễn Tấn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 174, quyển số 01.1998, ngày 19/12/1998 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Theo lời khai của bà T, vợ chồng bà chung sống với nhau không hạnh phúc vì ông L thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn rồi về đánh đập vợ con dẫn đến mâu thuẫn kéo dài đến mức không thể hàn gắn được. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông L đến Tòa làm việc nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do, chứng tỏ ông L không có thiện chí đoàn tụ gia đình với bà T. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị ly hôn của bà T là chính đáng, có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bích T và ông Nguyễn Tấn L có một con chung là Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày: 20/6/1999. Cháu Đ đã trưởng thành, khỏe mạnh, bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51, 56 và 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T.
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích T được ly hôn ông Nguyễn Tấn L.
- 2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bích T và ông Nguyễn Tấn L có một con chung là Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày: 20/6/1999. Cháu Đ đã trưởng thành, khỏe mạnh, bà T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- 3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bích T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- 4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000003 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà T đã nộp đủ án phí.
- 5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Hồng Thủy |
Bản án số 198/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 198/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
