Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 198/2024/DS-PT

Ngày: 16/5/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trang

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Hồng Dung

Ông Phạm Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:

Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2024/TLPT- PT ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DS ST ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 38/2024/QĐ-PT ngày 04/4/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H2 (M).

Địa chỉ: Số E N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L – Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm 1976 (có mặt) và Ông Ngô Văn Tiến H1, sinh năm 1998 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tầng A Tòa nhà T, số A - A N, phường N, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày số 6107//2023/GUQ-TGD9 ngày 10/7/2023).

Bị đơn:

  • Bà Đoàn Thị Cẩm V, sinh năm 1980.
  • Trần Anh T, sinh năm 2011.
  • Trần Tấn P, sinh năm 2015
  • Trần Phước T1, sinh năm 2022

(Bà V đồng thời là người giám hộ cho Trần Anh T, Trần Tấn P và Trần Phước T1). Bà V có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: Số B N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  • Ông Trần Thanh P1, sinh năm 1945 (vắng mặt).
  • Bà Thái Thị B, sinh năm 1945 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đoàn Thị Cẩm V, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Số B N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  1. Ban quản lý và phát triển quỹ đất quận C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A M, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Bị đơn Bà Đoàn Thị Cẩm V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 20/4/2023, Ngân hàng TMCP H2 (gọi tắt Ngân hàng) trình bày:

Ngày 28/4/2021, ông Trần Hoài B1 và bà Đoàn Thị Cẩm V cùng ký văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ cho ngân hàng số tiền 25.200.000.000 đồng. Ngày 29/10/2023, ông B1 và bà V cùng ký văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ cho MSB số tiền 500.000.000 đồng.

Ngân hàng và ông B1, bà V đã ký kết các hợp đồng sau: 1/ Hợp đồng cho vay (HĐCV) số: 019/2021/2021/HĐCV ngày 28/4/2021. Số tiền vay 25.200.000.000 đồng; Mục đích vay: Mua bất động sản cho chính khách hàng tại thửa đất số 1103, tờ bản đồ số 04 – tọa lạc đường V, khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

2/ HĐCV số: 00837/2021/HĐCV/RB/2657772 ngày 29/10/2021. Số tiền vay 500.000.000 đồng. Mục đích vay: Vay tiêu dùng cá nhân và gia đình.

Biện pháp bảo đảm: Ngân hàng và ông B1, bà V đã ký Hợp đồng thế chấp (HĐTC) số 012/2021/BĐ ngày 10/5/2021. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 1103, tờ bản đồ số 04 – tọa lạc đường V, khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ – theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 538053, số vào sổ cấp GCN: CS03229 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 13/5/2019 cho Trương Đỗ Minh P2 đứng tên, chỉnh lý sang tên ông Trần Hoài B1 ngày 10/5/2021. Thực hiện hợp đồng: Ngày 28/4/2021, Ngân hàng đã giải ngân cho ông B1 số tiền 25.200.000.000 đồng theo giấy nhận nợ lần 1. Ngày 29/10/2021, Ngân hàng đã giải ngân cho ông B1 số tiền 500.000.000 đồng theo giấy nhận nợ lần 1. Quá trình vay vốn, ông B1, bà V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo đúng cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay, giấy nhận nợ đã ký kết.Tạm tính đến ngày 21/3/2023, bị đơn còn nợ Ngân hàng số tiền 21.483.058.031 đồng (Gốc: 19.836.644.953 đồng, lãi: 1.645.912.574 đồng, lãi quá hạn: 500.504 đồng).

Trong đó: HĐCV số: 019/2021/2021/HĐCV ngày 28/4/2021 là 20.981.118.901 đồng (Gốc: 19.374.147.953 đồng, lãi: 1.606.898.455 đồng, lãi quá hạn: 72.493 đồng); HĐCV số: 00837/2021/HĐCV/RB/2657772 ngày 29/10/2021 là 501.939.130 đồng (Gốc: 462.497.000 đồng, lãi: 39.014.119 đồng, lãi quá hạn: 500.504 đồng).

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ngân hàng yêu cầu:

  1. Buộc bị đơn phải trả cho MSB toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 21/3/2023 là 21.483.058.031 đồng (Gốc: 19.836.644.953 đồng, lãi: 1.645.912.574 đồng, lãi quá hạn: 500.504 đồng). Trong đó:

+ HĐCV số: 019/2021/2021/HĐCV ngày 28/4/2021 là 20.981.118.901 đồng (Gốc: 19.374.147.953 đồng, lãi: 1.606.898.455 đồng, lãi quá hạn: 72.493 đồng;

+ HĐCV số: 00837/2021/HĐCV/RB/2657772 ngày 29/10/2021 là 501.939.130 đồng (Gốc: 462.497.000 đồng, lãi: 39.014.119 đồng, lãi quá hạn: 500.504 đồng);

Và lãi phát sinh kể từ sau ngày 22/3/2021 cho đến khi tất nợ;

  1. Trường hợp bà Đoàn Thị Cẩm V, cháu Trần Anh T, Trần Tấn P, Trần Phước T1, ông Trần Thanh P1, bà Thái Thị B không trả nợ hoặc trả không đầy đủ nợ, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 012/2021/BĐ ngày 10/5/2021 để thu hồi nợ vay. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ cho MSB thì bà Đoàn Thị Cẩm V vẫn có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ còn lại cho M.

* Bà Đoàn Thị Cẩm V cho rằng: do hoàn cảnh gặp nhiều khó khăn, phải nuôi 03 con nhỏ và chồng (ông B1) chết nên không có khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng. Hơn nữa, phía Ngân hàng đã thu hồi tiền bảo hiểm nhân thọ của ông B1, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Tòa án không hòa giải được nên đưa ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên xử như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Đoàn Thị Cẩm V phải trả cho Ngân hàng TMCP H2 số nợ tạm tính đến ngày 21/02/2024 là 24.453.698.718 đồng (Gốc và lãi).

Trong đó: Khoản nợ theo HĐCV số: 019/2021/2021/HĐCV ngày 28/4/2021 là 23.987.604.856 đồng (Gốc: 19.374.147.953 đồng, lãi trong hạn: 1.543.636.430 đồng, lãi quá hạn: 3.069.820.473 đồng) và HDCV số: 00837/2021/HĐCV/RB/2657772 ngày 29/10/2021 là 576.093.862 đồng (Gốc: 462.497.000 đồng, lãi trong hạn: 37.406.500 đồng, lãi quá hạn: 76.190.362 đồng) và chịu lãi phát sinh tính ngày 22/02/2024 cho đến khi tất nợ.

Ngân hàng được quyền liên hệ Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất quận C, Kho bạc nhà nước quận C, thành phố Cần Thơ và các cơ quan có liên quan (nếu có) để nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất thế chấp bị thu hồi là 4.507.272.000 đồng (tương đương 894,3 m² đất) để thu hồi khoản nợ vay (theo Quyết định thu hồi đất số 3218/QĐ-UBND ngày 10/11/2022 và Quyết định số 3249/QĐ-UBND ngày 10/11/2022 của UBND quận C, thành phố Cần Thơ về việc bồi thường, hỗ trợ phần đất thu hồi bị ảnh hưởng bởi dự án đường cao tốc).

Trường hợp bà V không trả nợ hoặc trả không đủ nợ, thì phát mãi tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ vay (theo Hợp đồng thế chấp số 012/2021/BĐ ngày 10/5/2021, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 538053, số vào sổ cấp GCN: CS03229 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 13/5/2019 cho Trương Đỗ Minh P2 đứng tên, chỉnh lý sang tên ông Trần Hoài B1 ngày 10/5/2021 và Bản trích đo địa chính số 1460/TTKTTNMT ngày 13/12/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C – đất tọa lạc đường V, khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí định giá và chi phí đăng tin tìm kiếm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 07/3/2024: Bà Đoàn Thị Cẩm V có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay,

* Bị đơn có kháng cáo nhưng xin xét xử vắng mặt: Bà gửi văn bản yêu cầu xem xét các vấn đề liên quan đến bản án sơ thẩm.

* Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn chịu trách nhiệm thanh toán tổng số tiền gốc và lãi cho Ngân hàng nếu không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp. Đề nghị giữ y án sơ thẩm. Không đồng ý với kháng cáo của bị đơn.

*Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:

Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức. Viện kiểm sát kháng nghị trong hạn luật định nên phù hợp về mặt hình thức; Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung kháng nghị.

Về nội dung: Về Ngân hàng khởi kiện buộc bà Đoàn Thị Cẩm V thanh toán số nợ 24.453.698.718 đồng (Gồm gốc và lãi) là có cơ sở, nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà V đồng thời là người thừa hưởng thừa kế của ông B1 và là người giám hộ cho các con phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng. Nếu bà V không trả nợ, thì phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ;

Ngân hàng được quyền liên hệ cơ quan chức năng nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ phần đất thế chấp bị thu hồi làm dự án đường cao tốc là 4.507.272.000 đồng để thu hồi khoản nợ vay. Đối với ông P1, bà B đã có văn bản từ chối nhận di sản của ông B1, nên không có trách nhiệm cùng bà V trả nợ cho Ngân hàng.

Đề nghị: Áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Giữ y bản án sơ thẩm có điều chỉnh sửa lại cách tuyên này theo đó nêu rõ số tiền ngân hàng nhận từ Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất quận C được nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất thế chấp bị thu hồi là 4.507.272.000 đồng được trừ vào số nợ gốc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên; ý kiến của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cư trú tại quận N, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều và đây là tranh chấp Hợp đồng tín dụng, giữa pháp nhân với cá nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như án sơ thẩm nhận định là phù hợp.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Đoàn Thị Cẩm V với tư cách là bị đơn, đồng thời là người giám hộ cho các con (Trần Anh T, Trần Tấn P, Trần Phước T1) và cùng ông Trần Thanh P1, bà Thái Thị B thừa hưởng di sản thừa kế và nghĩa vụ của ông B1 để lại có kháng cáo có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông P1, bà B được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Cấp sơ thẩm và phúc thẩm căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự.

[3] Về nội dung: Ngày 28/4/2021, vợ chồng ông Trần Hoài B1, bà Đoàn Thị Cẩm V và M ký kết Hợp đồng cho vay (HĐCV) số: 019/2021/2021/HĐCV, vay số tiền 25.200.000.000 đồng. Mục đích vay để mua thửa đất số 1103, tờ bản đồ số 04 – tọa lạc đường V, khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ và HĐCV số: 00837/2021/HĐCV/RB/2657772 ngày 29/10/2021, vay số tiền 500.000.000 đồng.

Để đảm bảo khoản vay, phía bị đơn đã ký Hợp đồng thế chấp (HĐTC) số 012/2021/BĐ ngày 10/5/2021, thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 1103, tờ bản đồ số 04, diện tích 2.156,6 m² (đất cơ sở S) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 538053, số vào sổ cấp GCN: CS03229 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 13/5/2019 cho Trương Đỗ Minh P2 đứng tên, chỉnh lý sang tên Trần Hoài B1 ngày 10/5/2021.

Đối với số nợ gốc; tiền lãi trong hạn và quá hạn của nguyên đơn đối với bị đơn, các bên không ai đặt ra kháng cáo nên giữ y như án sơ thẩm tuyên.

Xét nội dung kháng cáo: Bà V kháng cáo đặt ra 4 vấn đề nghị xem xét: Lần lượt bản án được phân tích như sau:

[4] Quá trình thực hiện hợp đồng vay, thì vào ngày 28/01/2022 ông B1 chết (theo Trích lục khai tử số 90/TLKT-BS ngày 08/02/2022 của UBND xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp); nhưng bà V không trả nợ cho MSB là trái với giao kết giữa hai bên, nên bà V có trách nhiệm thanh toán số nợ vay cho MSB.

Ông Trần Thanh P1, bà Thái Thị B cũng là hàng thừa kế thứ nhất của ông B1; tuy nhiên, tại Văn bản từ chối nhận di sản ngày 05/5/2022, ông P1, bà B đã từ chối nhận di sản của ông B1 để lại, với nội dung “...việc từ chối nhận di sản thừa kế này không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”. Việc từ chối nhận di sản thừa kế của ông P1, bà B là phù hợp theo quy định tại Điều 620 Bộ luật dân sự, nên ông bà không có trách nhiệm cùng bà V trả nợ cho MSB. Vì vậy, bà V với tư cách bị đơn (người vay tiền) đồng thời là người giám hộ cho các con và là người thừa hưởng di sản và nghĩa vụ của ông B1 nên phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng theo các hợp đồng đã ký kết. Bị đơn kháng cáo xác định di sản để lại cho các đồng thừa kế hàng thứ nhất 06 người là đúng và tuy nhiên như bản án sơ thẩm đã nhận định về việc từ chối nhận di sản thừa kế nên bản án loại trừ trách nhiệm của ông P1 và bà B là phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo này của bị đơn

[5] Theo Quyết định thu hồi đất số 3218/QĐ-UBND ngày 10/11/2022 và Quyết định số 3249/QĐ-UBND ngày 10/11/2022 của UBND quận C, thành phố Cần Thơ về việc bồi thường, hỗ trợ phần đất thu hồi bị ảnh hưởng bởi dự án đường cao tốc). Do phần đất bị ảnh hưởng nằm trong tài sản thế chấp nên bản án tuyên buộc Ngân hàng được quyền liên hệ Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất quận C, Kho bạc nhà nước quận C, thành phố Cần Thơ và các cơ quan có liên quan (nếu có) để nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất thế chấp bị thu hồi là 4.507.272.000 đồng (tương đương 894,3m² đất) để thu hồi khoản nợ vay.

Tuy nhiên cũng cần nhận định để bị đơn hiểu là số tiền này không phải là Ngân hàng thụ hưởng mà là Ngân hàng nhận để đảm bảo trừ vào số nợ gốc mà các bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán. Do vậy cần nêu rõ sửa lại cách tuyên này theo đó nêu rõ số tiền nhận từ Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất quận C, Kho bạc nhà nước quận C, thành phố Cần Thơ và các cơ quan có liên quan (nếu có) để nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất thế chấp bị thu hồi là 4.507.272.000 đồng được trừ vào số nợ gốc.

[6] Đối với phần yêu cầu thời hiệu là không có cơ sở vì Ngân hàng khởi kiện vẫn còn trong thời hiệu.

[7] Đối với kháng cáo yêu cầu xem xét hoàn cảnh gia đình khó khăn hiện nay, Ngân hàng xác định việc đánh giá xem xét sẽ thực hiện trong giai đoạn thi hành án khi các đương sự có thiện chí hợp tác thu hồi nợ. Vì vậy cũng không có căn cứ chấp nhận việc kháng cáo này.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà V được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí.

[9] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ được chấp nhận do phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 1; Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đoàn Thị Cầm V1: Giữ y một phần bản án sơ thẩm; Sửa một phần bản án sơ thẩm về cách tuyên liên quan đến số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất bị thu hồi Ngân hàng được tuyên nhận từ Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất quận C, Kho bạc nhà nước quận C, thành phố Cần Thơ và các cơ quan liên quan (nếu có) số tiền là 4.507.272.000 đồng được trừ vào số nợ gốc.

Buộc bà Đoàn Thị Cẩm V phải trả cho Ngân hàng TMCP H2 (M) số nợ tạm tính đến ngày 21/02/2024 là 24.453.698.718 đồng (Gốc và lãi).

Trong đó: Khoản nợ theo HĐCV số: 019/2021/2021/HĐCV ngày 28/4/2021 là 23.987.604.856 đồng (Gốc: 19.374.147.953 đồng, lãi trong hạn: 1.543.636.430 đồng, lãi quá hạn: 3.069.820.473 đồng) và HĐCV số: 00837/2021/HĐCV/RB/2657772 ngày 29/10/2021 là 576.093.862 đồng (Gốc: 462.497.000 đồng, lãi trong hạn: 37.406.500 đồng, lãi quá hạn: 76.190.362 đồng) và chịu lãi phát sinh tính ngày 22/02/2024 cho đến khi tất nợ.

Ngân hàng TMCP H2 được quyền liên hệ Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất quận C, Kho bạc nhà nước quận C, thành phố Cần Thơ và các cơ quan có liên quan (nếu có) để nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất thế chấp bị thu hồi là 4.507.272.000 đồng (Bốn tỷ, năm trăm lẻ bảy triệu, hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng), (tương đương 894,3 m² đất) để thu hồi khoản nợ vay (theo Quyết định thu hồi đất số 3218/QĐ-UBND ngày 10/11/2022 và Quyết định số 3249/QĐ-UBND ngày 10/11/2022 của UBND quận C, thành phố Cần Thơ về việc bồi thường, hỗ trợ phần đất thu hồi bị ảnh hưởng bởi dự án đường cao tốc). Số tiền này được trừ vào số nợ gốc cho các khoản nợ buộc trả nêu trên.

Trường hợp bà V không trả nợ hoặc trả không đủ nợ, thì phát mãi tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ vay (theo Hợp đồng thế chấp số 012/2021/BĐ ngày 10/5/2021, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 538053, số vào sổ cấp GCN: CS03229 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 13/5/2019 cho Trương Đỗ Minh P2 đứng tên, chỉnh lý sang tên ông Trần Hoài B1 ngày 10/5/2021 và Bản trích đo địa chính số 1460/TTKTTNMT ngày 13/12/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C – đất tọa lạc đường V, khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà V phải nộp án phí là 132.453.699 đồng (Một trăm ba mươi hai triệu, bốn trăm năm mươi ba nghìn, sáu trăm chín mươi chín nghìn đồng).

Nguyên đơn được nhận lại 64.742.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu, bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0001304 ngày 03/7/2023.

Về chi phí thẩm định: Nguyên đơn tạm ứng 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), đã chi phí hết 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Bị đơn chịu chi phí này, nên phải nộp số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để hoàn trả nguyên đơn. Còn lại 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), nguyên đơn đã nhận lại xong (BL67).

9. Về án phí dân sự phúc thẩm: không ai phải chịu. Bị đơn được nhận lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu số 0001023 ngày 12/03/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (ngày 16/5/2024).

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSNDTPCT;
  • - TAND Q. Ninh Kiều
  • - Cục THADS Q.Ninh Kiều

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Minh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 198/2024/DS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 198/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: GIỮ VÀ SỬA MỘT PHẦN BAST
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger